hoàng tử tất đạt đa

Tử vi hôm nay ngày 30/9/2022 của 12 cung hoàng đạo cho thấy Cự Giải không còn nhiều sức lực để làm mọi việc, cơ bản là phải giải quyết những việc lặt vặt. Tình cảm: Vận trình tình cảm yếu kém, khi ở bên nhau, bạn không có ham muốn giao tiếp, chỉ nghĩ đến chuyện của mình chứ không nghĩ đến chuyện của người khác. "A Cổ Đạt Mộc, ngươi lập tức cho quân lính của chúng ta biết, nhanh chóng đem tất cả binh lính tập hợp lại! Tối nay liền hành quân trong đêm" "Vâng! Ô Ân hoàng tử" A Cổ Đạt Mộc khom lưng hành lễ. Hoàng Phúc chuyên phân phối máy móc công nghiệp, máy xây dựng của các thương hiệu hàng đầu trên thế giới tại Việt Nam Gọi Ngay: 0915315533 CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THIẾT BỊ CÔNG NGHIỆP Gia đình hoàng gia trên thế giới tung ảnh thiệp Giáng sinh, nhà Công nương Kate lần đầu "lép vế" trước vẻ đẹp hoàn mỹ của hoàng gia Bỉ. Bức ảnh Hoàng tử William cùng 3 người con là Hoàng tử George (7 tuổi), Công chú Charlotte (5 tuổi) và Hoàng tử Louis (2 tuổi) cùng nhau Khám phá các video ngắn liên quan đến hoàng tử trên TikTok. Xem nội dung phổ tiến từ các tác giả sau đây: Hoàng Tú(@tuleeeeeee), Hoàng Tú(@tuleeeeeee), Hoàng Tú(@tuleeeeeee), Hoàng Tú(@tuleeeeeee), Đạt Nè7777777(@voxuandat04) . Khám phá những video mới nhất từ các hashtag: #hoàng_tử, #hoàngtử, #_hoàng_tử, #hoangtu, #hoangtuvlogs, #ôi Site De Rencontre Pour Mariage Halal. THÁNH VƯƠNG TẤT ĐẠT ĐA XUẤT GIA tt LÊ TƯ CHỈ Tuổi 19 đảm nhiệm vương vị phải lập gia thất với Da Du Đà La Yasodhara để có một đích tôn là thâm ý hạn định của Tịnh Phạn Vương Suddhodana và để Thái tử không thể xuất gia, rời bỏ ngai vàng xã tắc, thân tộc Thích quyến mong manh hư huyễn xoay vòng. Hơn mười năm tạm hưởng những “hạnh phúc” gia đình, triều chính. Nhưng từ sang rằm tháng 6 năm ấy, Thái tử tân vương lãm du ngoài 3 cửa thành, gặp 3 cảnh động tâm Samvega sâu sắc già, bệnh, chết do chư Thiên biến hiện đã khiến Thái tử suy tư; chắc chắn chúng ta cũng sẽ già bệnh chết như thế. Làm sao tránh khỏi chúng được! Hồi cung, không du lãm nữa! Thái Tử nghiêm trang tự hỏi Có con đường nào thoát khỏi chúng hay không? Bốn tháng sau sau cảnh chết ngày 6 tháng 2 cũng rằm tháng 6, Thái Tử tiếp tục du lãm thấy một sa môn cũng do chư thiên biến hóa an nhiên tĩnh tọa dưới một cội cây lớn. Tâm tư Thái tử bừng sang diệu kỳ về sự XUẤT GIA; về sự khổ đau của già bệnh chết, về sự trầm luân của sinh diệt diệt sinh… Ngay đêm hồi cung Ngài quyết định XUẤT GIA! Và cũng là lúc này, Hoàng hậu Da Du Đà La báo tin hạ sinh một Hoàng tử! Thật hy hữu, từ một ý tưởng “xuất trần vi thượng sĩ” vừa phát khởi, đầy thử thách cho một ý chí đang muốn mưu cầu con đường thoát khổ tử sanh trong tâm tư sâu lắng của Thái tử, của Tân vương và bây giờ lại có thêm sự RÀNG BUỘC Hoàng nhi LA HẦU LA Rahula vừa hiện hữu. Hạnh nguyện XUẤT GIA đã có đủ 3 yêu cầu trọng đại của vương phụ nay cảng thêm thôi thúc. Tân vương TẤT ĐẠT ĐA bảo XA NẶC Chanake quan giữ ngựa thân tín Đêm nay ta sẽ rời hoàng cung đi XUẤT GIA, hãy cho ta ngựa KIỀN TRẮC Kandaka ngay bây giờ. Nhớ kỹ là không để một ai hay biết việc này!”. Xa Nặc chợt chấn động toàn thân, sợ hãi thưa với Thái tử “Có biến động gì trong, ngoài thành, đương đêm mà Ngài vội ra đi?” Hỡi Xa Nặc, ta nay sợ hãi các khổ bức não. Ngươi sao rõ được! Hãy nhanh chóng dẫn Kiền Trắc đến đây. Ta nay ở bên Phụ Vương tâm sinh ái kính như Người đã yêu thương, ta phải đáp trả ái kính. Người đã thương quý thân tộc, ta chẳng muốn bỏ dân tộc. ta chỉ lo sợ cái khổ não luôn bức bách của sang tử! Ngày nay muốn tìm giải thoát, đành tạm xa hình hài thân tộc. Mai sau nguyện cứu độ họ; không rời bỏ nữa khi ta đạt được sự giải thoát cho tất cả! Nếu thế gia này không còn thô tướng thống khổ về già bệnh chết, không còn vì tánh khổ đau ái biệt ly, không có oán ghét, không khổ vô thường. Sinh trong nhân gian không có uế trược năm dục. Nếu được thế tâm ta mới an vui. Hiện tại chưa đạt tâm này, XUẤT GIA là điều tiên quyết! Ngươi chớ trái ý Ta! Ngài chợt nghĩ nên xem mặt Hoàng Nhi. Bước nhẹ lại phòng, có ánh đèn mờ nhạt. Hoàng hậu đang choàng cánh tay trái của mình che khuất mặt Hoàng nhi, ngài không thấy được. “Thôi, mai sau khi thành bậc chánh Đẳng chánh Giác, trở về xem mặt lại cũng chưa muộn!” Kiền Trắc cảm thọ được tâm hành Thái tử, liền đến gần, cất tiếng hí vang… Tân vương Thái tử Tất Đạt Đa XUẤT GIA lúc nửa đêm ngày rằm tháng 6 âm lịch Ấn Độ cũ, chư Thiên Tỳ Xá Ca, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Giá… đồng cung tiễn, hiệp trợ mở nhẹ cửa thành, có Dạ Xoa Bát Túc trên hư không dung tay nâng 4 vó ngựa Kiền Trắc phi nhanh, vượt qua 3 xứ Sakya, Koliya và Malla cuối đêm ấy, đến bờ kia sông Anoma. Thủ Đà hội chư thiên dùng thần lực ẩn mất tiếng kia, không cho nghe thấy, khỏi chướng ngại Chuyển Luân Thánh Vương TẤT ĐẠT ĐA XUẤT GIA. XA NHÀ THẾ GIAN Kiền Trắc Kandara, hãy giúp ta trong cuộc tạm chia ly này! Ta sẽ vui xuất thế lâu dài, hơn vui ở thế gian ngắn ngủi, vô minh, hư hoại! Ta muốn vì thế gian mà cầu giải thoát, an lạc, tịch tịnh vĩnh hằng! Thái tử ngồi trên lưng Kiền Trắc, vô lượng Atula chúng, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Tỳ xá ca địa cùng chư Thiên… ào ạt theo sau Kiền Trắc mà đi; có nhiều Thiên tử xướng ngôn tán thán “Nay Ngài muốn độ thoát vô lượng chúng sanh ở biển phiền não mà đi! Nguyện vô chướng ngại, Đại Thánh Thế Tôn, nay XUẤT GIA qua biển sanh tử!” Thái tử an nhiên mà đi đến cửa Tỳ gia la có Thiện nhân tướng Dạ xoa hợp với năm trăm Dạ xoa quyến thuộc đồng bảo nhau Chúng ta vì Thái tử mà mở các cửa. Sau này Ngài chứng đắc Pháp vị Cam Lộ sẽ vì Trời, Người mà làm ĐẠI LỢI ÍCH! Tuy thế, Dục giới Ma vương Ba tuần biết Thái tử xuất gia liền dùng thần thông làm nhiều tiếng động lớn; bầu trời mây đen dày đặc, sấm chớp liên hồi, nước đổ ầm ào thô bạo làm cát đá bay lăn bốn hướng, vây quanh Thái tử và nhiều núi đồi nham thạch phun trào cản trở lối đi. Tịnh cư chư Thiên dùng thần thông thân thiện hòa giải được chúng, đẩy xua chúng ma Ba tuần bay xa, không cho làm chướng ngại XUẤT GIA của Thái tử. Đứng ngoài thành Ca Tỳ La Vệ Kapilavatthu, Thái tử Tân vương quay lại, cất tiếng Sư tử hống “Ta nay, thà vứt bỏ thân mình, roi xuống vách đá lớn, uống các thứ chất độc mà hết thân mạng, nếu Ta chưa được tùy long cầu nguyện độ thoát chúng sanh ở biển khổ sanh tử; thì Ta trọn không vào lại thành Ca Tỳ La”Phật Bản Hạnh Tập. Chư Thiên, các thần thủ hộ thành Ca Tỳ La Vệ đều đồng thanh xướng tụng Đúng thế! Đúng thế! Đúng như Thái tử sở nguyện, sẽ thành tựu viên mãn! - Thái tử hoan hỷ tiếp lời Ta chỉ có thể trở về Thành Ca Tỳ khi đã chứng đắc Cam Lộ Chánh pháp, đoạn dòng sanh tử phiền não, đạt quả vị tối thượng Chánh đẳng Chánh giác! Tịnh cư chư thiên phóng đại quang minh soi rõ đường lớn cho Thái tử xuất gia. Dục giới chư Thiên trang nghiêm thân tướng, đi trước dẫn đường. Đại Phạm Thiên vương và quyến thuộc, Đao Lợi Thiên vương và thích chúng, Tam thập tam thiên quyến thuộc tả hữu hai bên Thái tử mà đi. Tứ đại Thiên vương trang sức châu thân cùng với vô lượng Càn thác bà, Cưu bàn trà, Long vương, Dạ xoa nghiêm tịnh anh lạc, bảo cái… đi trước dẫn đường cho Thái tử. Hư không có muôn ngàn hương hoa do chư Thiên rải rắc cúng dường châu thân và bước đi của Thái tử. Da Du Đà La Yasodhara thức giấc, nhìn quanh thấy chỉ có sự tĩnh lặng, cảm ứng mộng điều hôm trước. Tịnh Phạn vương được cấp báo, liền lệnh cho quan triều đình kiếm tìm Thái tử trở về yên vương tại vị. Song thiên chúng đã dùng thần lực ẩn khuất bóng hình Thái tử trên siêu phương phát túc siêu phương, tâm hình dị tục… Luật Tỳ Ni nhật dụng tìm cầu Chánh pháp. Xa Nặc Channeka, Kiền Trắc Kandaka đưa Thái tử đến thôn Cala bờ bên kia sông Anoma, dừng lại nghỉ chân, cũng là lúc bình minh ló dạng, chiếu sáng cảnh vật. Xa Nặc quỳ thưa “Vì cơ duyên gì mà Ngài từ bỏ kinh thành hoa lệ kia để về miền rừng núi này?” - “Xa Nặc, người sinh cùng ngày với ta, nên biết • Ta vứt bỏ Thánh Vương, chẳng đem theo tài vật nào khác, thì sợ hãi gì? • Ta chỉ cầu Giải Thoát, lìa xa ràng buộc. • Ngôi vua mới đáng sợ. Tâm ý ta đã quyết xuất gia. Ta nay cắt bỏ thân yêu lại, ngươi nay mau đem Kiền Trắc về Phật Bản Hạnh Tập. Ta sẽ thành Vô lượng Chánh đẳng Chánh giác!” Xa Nặc nghe xong, thầm nghĩ “Nội dung tiên tri của A Tư Đà chỉ riêng Thích chủng biết, nay tại sao Thái tử lại hay?” - Đang băn khoăn thì Thái tử Tất Đạt Đa tiếp lời, xác quyết Từ khi ta nhập mẫu thai, mọi việc xảy ra ta đều nhớ giữ, chư Thiên cũng đã nói rằng Thái tử mau chóng xuất gia. Nhất định đắc đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, quay xe Chánh pháp. Ta thà lấy dao cắt thân thịt, ăn chất độc, nhảy vào đống lửa lớn, gieo mình từ núi cao xuống… nếu ta chưa được Pháp Viễn ly tử sanh mà trở về Kinh thành. Ngũ dục cảnh giới thế gian đều vô thường, chẳng tồn tại lâu dài; đều là những pháp phá hoại thân tâm thanh tịnh chúng ta… “Này Xa Nặc, ta giao ngươi chuỗi ngọc Mani về dâng phụ vương ta, chí thành đảnh lễ, thưa rằng Ngài nên bớt sầu khổ vì việc chia ly này. Thái tử không bị Người lừa dối. Thái tử không có tâm sân hận, cũng không phải đi tìm của cải, phong lộc, lại càng không cầu mong lên Trời! Thái tử XUẤT GIA chỉ vì… - Thấy chúng sanh ở đường bất chánh, mê hoặc, vọng tà… - Muốn làm quang minh, đoạn trừ pháp chấp sanh tử. - Cầu an lạc cho thế gian; biết rõ và thoát khỏi sầu não. - Muốn đứt hạnh hữu lậu, vô thường… Xa Nặc, ngươi phải xa bỏ biệt ly khổ. Chúng sanh có sanh già, có biệt ly, có tâm ái trược, nhiễm hoặc từ trong thai dưỡng. Hội họp ắt phải biệt ly Ví như cây lớn nhiều chim đậu, Đều từ các phương lại đỡ nghỉ. Hôm sau bay đi các nơi khác, Chúng sanh ly biệt cũng như thế! Cũng như mùa hạ đùn mây lớn, Tạm tụ rồi lại tán ngay. Chúng sanh biệt ly pháp như thế, Chốc lại tụ họp, lại phân ly! Kinh Phật Bản Hạnh Tập Xa Nặc, Kiền Trắc đều bi ai. Tân vương Thái tử đưa tay phải nhẹ nhàng xoa đầu Kiền Trắc phân giải “Từ nay, về thành tự ăn tự uống; đưa tiễn đến đây là tối hậu! Đường lớn ta đi, đã được Ngươi giúp đoạn mở đầu! Ngươi chớ sầu khổ! Sau khi Chứng Pháp Cam Lộ quả vị, Ta sẽ trở về báo đáp cho Ngươi”. Xa Nặc, ngũ dục luôn nhiễu loạn thân tâm, vương vị cũng thế, hoạn khổ bức bách trăm bề, trên dưới vây quanh. Thà ở chốn dân dã này mà tình ý luôn vui cùng chim bay thú chạy; độc khởi độc hành; xa lìa dục lạc mong manh, hạn định. Ta vui lắm nơi đây! Hãy tùy hỷ với ta, chẳng nên chướng ngại. Lúc trở về kinh thành, thưa với phụ vương, kế mẫu Mahapajatigotami ta rằng “Vì muốn chứng Vô thượng Bồ đề mà phải chịu sự ly biệt này! Thân ta tạm xa kinh thành, Phụ vương, Kế mẫu, Thê nhi, Thích chủng để lên đường làm Hạnh Đại Xuất Gia” trước là vì những đó, sau là vì chúng sanh đang mãi đắm chìm trong dục lạc vô minh, Ta muốn giải thoát họ, cứu giúp họ. Hiếu hạnh của ta đặt lên trên những ràng buộc gia đình bé nhỏ. Mai sau sẽ đáp hiếu cho tất cả. Tâm ý Ta trở về giúp nhận chân khổ đau và cách diệt trừ đau khổ. Cùng đi trên đường Bát Chánh đến quả vị Giải thoát, an lạc lâu dài! Xa Nặc “Thưa ngài, con đã hiểu. Chúng con sẽ trở về Kinh thành Ca Tỳ La”. Thái tử Tân vương tháo bỏ châu báu trang nghiêm thân sức, nhờ Xa Nặc đem về cho quyến thuộc. Hãy đảnh lễ họ và thưa rằng “Ta nay tạm xa thâm ân, đi tìm Đạo Vô thượng Bồ đề. Đắc quả Ta sẽ về phụng kiến đáp đền!” Thái tử tuốt gươm tự cắt tóc, cạo râu. Tóc chừa cao độ hai lóng tay; chúng tự xoắn vào nhau và xoáy sang phải, nằm sát trên da đầu. Ngài cầm nắm tóc vừa cắt trên tay lập nguyện “Nếu thành bậc Chánh đẳng Chánh giác thì nắm tóc ở hư không. Ngược lại, sẽ rơi xuống đất”. Ngài vung nắm tóc lên, và thật phi thường, tóc vút cao lơ lửng trên không. Vua Đế Thích Sakka lấy làm hi hữu, vui mừng nâng tóc, không cho rơi xuống đất. Sakka còn dùng hộp ngọc thiên y cung kính đặt nắm tóc ấy vào hộp, đem lên tôn trí ở bảo tháp Culamani trên cung trời Tam thập tam thiên. Đại Phạm Thiên Brahma Ghatikara pháp hữu tiền kiếp với Thái tử Tân vương thời Đức Phật Kassapa biết Thái tử xuất gia nên đem 6 món nhật dụng của người xuất gia làm sa môn Tam y, bình bát, dao cạo, kim chỉ, thắt lưng và đồ lọc nước đến dâng cúng Ngài. Thái tử hoan hỷ tiếp nhận, liền trao đổi áo Cathia vốn có giá trị trăm ngàn vàng cho người thợ săn. Tịnh cư thiên nhận lấy Cathia nhanh chóng trở về hư không. Tất Đạt Đa Sidhartha khoác áo cà sa, vừa cạo bỏ râu tóc, hình dung cải biến đoan chính, tự tại “Ta nay mới là CHÂN XUẤT GIA, ĐẠI QUANG MINH, ĐẠI AN LẠC!” Ung dung, an lac, độc nhất vô song với áo vàng, chân đất, đầu trần, trì bình nhật dụng, hướng Bạt Già Bà tiên nhân cất bước. Xa Nặc đảnh lễ, nhiễu ba vòng quanh Sidhartha rồi cùng Kiền Trắc trở về Ca Tỳ La Vệ Kapilavatthu mãi 8 ngày sau mới đến Tài liệu khác Kiền Trắc không chịu nổi sự biệt ly nên quỵ chết tại đây, thác sinh về cõi trời Đao Lợi Tavatims. Nhạt nhòa trong tâm tưởng bi ai, hi hữu với bao diễn biến thâm diệu, siêu tuyệt tự hào vừa qua hình bóng Người rực sáng 10 phương; vừa gần trong cõi nhớ lại vừa xa bước đăng trình Bạt Già Bà, Di Đa La Ma, Thiết Ma, Ma Na Bà… là những tiên nhân tụ lạc tại Đạo tràng cùng với A La Lã họ Cam La Thị thuộc quốc thành Tỳ Xá Ly. Thái tử Sidhartha đến tham vấn tiên đạo. Ra khỏi nhà. Nhà gì? Nó ở đâu? Hành trình như thế nào? Có người thân tướng vẫn ở trong “nhà thế tục” mà tâm ý họ đã như đang “phát túc siêu phương” vì họ đã làm chủ được mình; làm chủ được ngũ dục uế trược và vì họ là người theo Phật Thích Ca Mâu Ni. Họ an lạc, như nhiên, cộng sinh thật vinh quang vĩ đại như ánh quang nhật nguyệt. “Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh” Bát nhã đây là “cái nhìn” vô trước, “quán chiếu” ta vẫn thấy “hành trạng xuất gia” phải “đi” như thế, vì ta đâu phải “thánh nhân”. Mà sao lại không là “nhân thánh”! Bồ tát Hộ Minh Sataketu đã thị hiện Đản sanh làm Tân vương Thái tử Tất Đạt Đa Sidhartha và tiếp nguyện minh chứng XUẤT GIA. Nhiên hậu để cảm nhận Ngài đã làm một việc mà không có nhiều người khác làm được! Còn ta, ta quyết tâm đi trọn đường! Ngõ hầu “dụng báo tứ ân” và “bạt tế tam hữu” Linh Hựu - quy sơn cảnh sách từ hành trang “nội cần khắc niệm chi công; ngoại hoằng bất tranh chi đức” của NGƯỜI XUẤT GIA. Buổi sơ nguyện “chấn nhiếp ma quân, Thiệu long thánh chủng”, ta gạt nước mắt lên đường “miến ly hương đảng, thế phát bẩm sư” cảnh sách, thiếu vắng việc sớm hôm cúc cung “cam chỉ” với Phụ mẫu, “lục thân cố dĩ khí ly” cảnh sách ta thật sự XUẤT GIA làm người TÂM HÌNH DỊ TỤC. Với tâm nguyện TO LỚN kia, sao cho ngày mỗi thành tựu viên mãn, nở hoa thơm, kết trái lành, Không phụ những giọt nước mắt chia ly thuở nào tại hai bên bờ mê - ngộ! Với ý nghĩa đặc trưng đó, XUẤT GIA trong CHÚNG TA đang dần HIỆN HỮU Hệ lụy trần gian đã từng bước đoạn trừ, các não phiền đã khắc phục, biến thành chất liệu an lạc. Tương lai ba cõi tràn đầy dấu hiệu vượt thoát, vì ở nơi đây “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” TƯỚNG và đã “Tự Tịnh kỳ ý” TÁNH từ lâu rồi! Tin tức khác KÍNH MỜI QUÝ VỊ XEM TỪ QUANG TẬP 21 – THÁNG 7 NĂM 2017 PL. 2561 KÍNH MỜI QUÝ VỊ XEM TỪ QUANG TẬP 20 – THÁNG 4 NĂM 2017 PL. 2560 KÍNH MỜI QUÝ VỊ XEM TỪ QUANG TẬP 19 – THÁNG 1 NĂM 2017 PL. 2560 ĐÓN XEM TỪ QUANG TẬP 19 KÍNH MỜI QUÝ VỊ XEM TỪ QUANG TẬP 18 – THÁNG 10 NĂM 2016 PL. 2560 KÍNH MỜI QUÝ VỊ XEM TỪ QUANG TẬP 17 – THÁNG 7 NĂM 2016 PL. 2560 Tổng quan Siddhartha Gautama tiếng Phạn Siddhārtha Gautama; Devanagari सिद्धार्थ गौतम; tiếng Pali Siddhattha Gotama hay Tất-đạt-đa Cồ-đàm, Cù-đàm phiên âm Hán Việt từ tiếng Phạn 悉達多 瞿曇, còn được người đương thời và các tín đồ đạo Phật sau này tôn xưng là Shakyamuni tiếng Phạn Śākyamuni; Devanagari शाक्यमुनि; phiên âm Hán Việt từ tiếng Phạn 释迦牟尼, nghĩa là Bậc thức giả tộc Thích Ca, hay gọi đơn giản là Phật tiếng Phạn Buddha; Devanagari बुद्ध; phiên âm Hán Việt từ tiếng Phạn 佛, là một người giác ngộ trong Phật giáo và là một đạo sư có thật từng sống ở Ấn Độ cổ đại khoảng giữa thế kỷ thứ VI và IV TCN. Theo tương truyền và sử liệu, ông là một vương tử tộc Thích-ca ở Ca-tỳ-la-vệ, đã từ bỏ đời sống phú quý để tìm đạo. Sau 6 năm cầu đạo, ông đạt được giác ngộ tâm linh và dành 49 năm cuối của cuộc đời mình cho việc truyền dạy giáo lý ở phía đông tiểu lục địa Ấn Độ. Siddhārtha đã đề xướng con đường Trung đạo Majjhimāpaṭipadā, vừa từ bỏ đời sống xa hoa và cũng vừa từ bỏ lối tu ép xác khổ hạnh thịnh hành trong các học thuyết tôn giáo Ấn Độ thời đó. Những lời giáo pháp trong thời gian ông đi truyền bá đã đặt nền tảng cho sự hình thành của Phật giáo. Siddhārtha Gautama được các Phật tử coi là một bậc đạo sư đã giác ngộ viên mãn và tự giải thoát hoàn toàn khỏi quy luật sinh tử luân hồi, hiểu rõ được sự vận hành của thế giới xung quanh, đồng thời truyền bá kinh nghiệm giác ngộ của mình cho người khác để họ có thể tự chấm dứt khổ đau bản thân, nhận sự hạnh phúc tối thượng. Chi tiết về cuộc đời, những lời dạy và các giới luật của ông được những học trò ghi nhớ và tổng hợp lại sau khi Siddhārtha Gautama qua đời. Hàng loạt những bản kinh ghi lại lời dạy của ông được lưu giữ qua truyền miệng và được viết thành sách 400 năm sau đó. Danh xưng Như Lai zh. 如來, sa., pi. tathāgata, là “Người đã đến như thế” hoặc “Người đã đến từ cõi Chân như”. Phật giáo Mật Tông còn gọi là “Tỳ Lô Giá Na”, dịch ý nghĩa là “Đại Nhật Như Lai”. Theo tiếng Phạn, “Tỳ Lô Giá Na” là tên gọi khác của Mặt Trời. Dùng danh hiệu “Tỳ Lô Giá Na” có nghĩa coi Tất-đạt-đa Cồ-đàm là Mặt Trời hồng không bao giờ tắt; tuệ giác của ông như Mặt Trời soi sáng khắp thế gian, xóa tan đêm tối vô minh. Ứng Cúng zh. 阿羅漢, sa. arhat, pi. arahant, dịch nghĩa là A La Hán zh. 應供, là “Người đáng được cúng dường”, đáng được tôn kính. Chính Biến Tri­ zh. 正遍知, sa. samyaksaṃbuddha, dịch theo âm là Tam-miệu-tam-phật-đà zh. 三藐三佛陀, là “Người hiểu biết đúng tất cả các pháp”. Minh Hạnh Túc zh. 明行足, sa. vidyācaraṇasaṃpanna, nghĩa là “Người có đủ trí huệ và đức hạnh”, tức là có đầy đủ tam minh Túc Mạng Minh, Thiên Nhãn Minh, Lậu Tận Minh và ngũ hạnh Thánh Hạnh, Phạm Hạnh, Thiên Hạnh, Anh Nhi Hạnh, Bệnh Hạnh. Thiện Thệ zh. 善逝, sa. sugata, là “Người đã đi một cách tốt đẹp” Thế Gian Giải zh. 世間解, sa. lokavid, là “Người đã thấu hiểu thế giới” Vô Thượng sĩ zh. 無上士, sa. anuttarapuruṣa, là “Đấng tối cao, không ai hơn” Điều Ngự Trượng Phu zh. 調御大丈夫, sa. puruṣadamyasārathi, nghĩa là “Người đã chế ngự được bản ngã và nhân loại”. Điều Ngự Trượng Phu còn một nghĩa khác nữa là Tất-đạt-đa Cồ-đàm có khả năng điều phục những người hiền và ngự phục những kẻ ác theo về chính đạo. Thiên Nhân Sư zh. 天人師, sa. devamanuṣyānāṃ śāstṛ, là “Bậc thầy của cõi người và cõi trời” Phật Thế Tôn zh. 佛世尊, sa. buddhalokanātha, buddhalokajyeṣṭha, bhagavān, là “Bậc giác ngộ được thế gian tôn kính” Giấc mơ báo trước sự đản sinh Tại vương quốc Ca Tỳ La Vệ Kapilavattsu, ngày nay thuộc nước Nepal, vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, hoàng hậu là Ma Da Mahamaya là vợ đức vua Tịnh Phạn Suddodana, khi ấy sắp tới ngày sinh hạ đứa con đầu lòng, đã có một giấc mơ báo điềm đặc biệt. Trong mơ, bà thấy rõ ràng một luồng ánh sáng trắng mỹ diệu chiếu rọi vào bà, và từ trong luồng sáng xuất hiện một con voi trắng vô cùng thánh khiết với sáu chiếc ngà. Con voi bước đến gần rồi hòa tan vào cơ thể bà. Bà đã kể lại giấc mơ với nhà vua ngay khi tỉnh lại và ngay sáng hôm đó, nhà vua cho triệu tập các nhà hiền triết. Họ cho biết rằng đó chính là điềm lành báo hiệu rằng hoàng hậu sẽ sinh ra một vĩ nhân. Nhà vua đã vô cùng chấn động. Theo tục lệ thời đó, hoàng hậu Ma Da sẽ di chuyển về nhà mẹ đẻ để sinh nở. Đó là một ngày trăng tròn theo lịch Ấn Độ. Khi dừng chân để nghỉ ngơi tại vườn Lâm Tỳ Ni, bà bất chợt trở dạ và thế là hoàng tử vương quốc Ca Tỳ La Vệ đã hạ sinh đến cõi trần một cách nhẹ nhàng. Một cơn mưa nhẹ sau đó đã gội rửa cho cả người mẹ và đứa trẻ. Cùng ngày đó, bảy sinh mệnh khác cũng được xuất sinh, lần lượt là cây bồ đề, công chúa Da Du Đà La Yashodhara, con ngựa Kiền Trắc Kantaka, người đánh xe ngựa Sa Nặc Channa, con voi Kaludayi người bạn thời thơ ấu của hoàng tử, và bảy kho báu vô chủ. Hoàng tử nhỏ được đưa trở về kinh thành ngay đêm hôm đó. Năm ngày sau, hoàng tử được đặt tên là Tất Đạt Đa Siddhartha, nghĩa là “người mà sẽ đạt được mục đích của mình”. Rất nhiều nhà thông thái đã đến để gặp mặt và cầu chúc cho vị hoàng tử mới sinh, trong số đó có A Tư Đà, vốn là thầy dạy học cũ của nhà vua và là một người tu hành khổ hạnh đã đạt được nhiều thành tựu. Nhà vua cảm thấy rất vinh dự bởi chuyến thăm của đạo sỹ A Tư Đà Asita, nên cho người mang đứa trẻ đến bên vị đạo sỹ để đứa bé tỏ lòng tôn kính với ông. Ngay lập tức, A Tư Đà đứng phắt dậy và nhận ra ngay những đường nét trên cơ thể hoàng tử báo hiệu một khuynh hướng tâm linh và tôn giáo. Với năng lực siêu thường, ông nhìn thấy sự vĩ đại trong tương lai của vị hoàng tử mới sinh và chào đón cậu với những cái siết tay thật chặt. Hành trình giác ngộ Khi trưởng thành, Tất Đạt Đa thấy cuộc sống nhung lụa vô nghĩa và cuối cùng đã quyết định bỏ trốn trên con ngựa Kiền Trắc với sự giúp đỡ của người thầy thân tín, Sắc Na. Hoàng tử đã thức dậy trong đêm, nhìn vợ con lần cuối, rồi lên ngựa, và phóng đi. Trước cổng thành, hoàng tử cắt đi mái tóc dày và giao lại chiếc áo choàng hoàng tử cho Sắc Na. Sau khi rời khỏi cung điện, Tất Đạt Đa đi đến Vương Xá Thành, kinh đô của nước Ma Kiệt Đà thời Ấn Độ cổ, nơi người gặp một số vị sư đang thiền định trong các hang động trên núi. Hoàng tử trở thành đồ đệ của nhà tu hành A La La Ca Lam Alara Klama, và được dạy cho cách tu luyện. Sau một thời gian tu luyện, hoàng tử không thấy tiến bộ hơn nữa nên theo học một nhà tu ẩn dật tên là Ưu Đà La La Ma Tử Uddaka Ramaputta. Tuy nhiên, sau một thời gian, người lại nhận ra rằng không thể tiến bộ thêm nữa. Do đó, Tất Đạt Đa tham gia cùng với năm nhà tu hành ở trong rừng Benares để tu luyện bằng cách hành xác, ăn cực ít và trải nghiệm sự khắc khổ. Từ đó trở đi, người ta bắt đầu gọi hoàng tử Tất Đạt Đa dưới cái tên Thích Ca Mâu Ni Sakyamuni, nghĩa là “nhà hiền triết của dòng họ Thích Ca”. Sau khi tu luyện như vậy được sáu năm, Thích Ca Mâu Ni phát hiện ra rằng ông chưa đạt được sự giác ngộ nhưng thân thể thường nhân của ông đã trở nên vô cùng suy kiệt. Vào một ngày khi ông đang thiền định, ông bất chợt nghe thấy cuộc trò chuyện giữa hai nhạc công trên một con thuyền. Người nhạc công dày dạn kinh nghiệm nói với người tập việc rằng các sợi dây của đàn nguyệt không nên quá căng hoặc quá chùng. Nếu dây được kéo quá căng, chúng sẽ đứt; và nếu được kéo quá trùng, âm thanh phát ra sẽ không đúng nữa. Ngay khi nghe được điều này, Thích Ca Mâu Ni chợt giác ngộ ra được đạo lý trung dung đi đường giữa và không đi sang phía cực đoan; sau đó ông rời đi để tản bộ. Trên đường đi, ông gặp một cô thôn nữ tên là Sujata, và cô tỏ ý muốn bố thí bánh gạo cho Thích Ca Mâu Ni; vốn giờ đã quá suy kiệt. Truyền thuyết kể lại rằng thân thể của Thích Ca Mâu Ni đã trở về bình thường ngay sau khi ăn nó. Sau đó ông đã ngồi dưới cội Bồ Đề trong rừng Urvela và nguyện sẽ không ra khỏi trạng thái thiền định nếu không đạt được sự giác ngộ. Ông đã đối mặt với sự can nhiễu từ một con quỷ tên là Mara, nó dùng trăm mưu nghìn kế để quấy nhiễu ông nhưng không thể nào xoay chuyển được ý chí kiên định của Thích Ca Mâu Ni. Khi chứng kiến việc Thích Ca Mâu Ni đột phá khỏi sự kiềm tỏa của ham muốn và ràng buộc, Mara trở nên cực kỳ phẫn nộ và nó gửi hàng tá ma quỷ có vũ khí đến để tấn công Thích Ca Mâu Ni, nhưng Ngài vẫn giữ nguyên trạng thái bất động. Sau khi bị đánh bại và nhận ra rằng nó sẽ không tài nào can nhiễu được đến định lực phi phàm của Thích Ca Mâu Ni, Mara đã mỉa mai ông và nói rằng mặc dù ông đã chiến thắng, nhưng sẽ không có ai chứng kiến được điều này. Thích Ca Mâu Ni chạm tay xuống mặt đất, ám chỉ rằng đất sẽ là vật chứng kiến. Mặt đất bất giác rung chuyển như để đáp lại rằng nó sẽ chứng kiến cho sự vinh diệu của Thích Ca Mâu Ni. Từ khoảnh khắc đó, Thích Ca Mâu Ni tiếp tục quá trình thiền định của ông và cuối cùng đã đạt được sự giác ngộ, trí huệ của ông đã được khai mở, và ông đã đạt đến cảnh giới của Phật sau 49 ngày thiền định dưới cội bồ đề. Truyền pháp cứu độ chúng sinh Ngay sau khi chứng đắc quả vị Phật, ông bắt đầu sứ mệnh tiền định của mình là truyền rộng Phật Pháp, cứu độ chúng sinh. Thích Ca Mâu Ni đã giảng bài Pháp đầu tiên cho những người đồng tu trước đây của ông, năm nhà tu hành ở Benares. Dần dần, số lượng các đồ đệ của ông đã tăng lên đến con số Khi vua Tịnh Phạn biết được rằng con trai ông đã trở thành một vị Phật, ông đã cho mời Thích Ca Mâu Ni vào cung và quở trách việc ông đã đi xin ăn trong khi ông giàu đến nỗi có thể nuôi hàng nghìn tín đồ. Thích Ca Mâu Ni giải thích cho cha rằng đó là một yêu cầu của hệ thống tu luyện của ông. Trong thời gian này, người em trai cùng cha khác mẹ A Nan Đà Ananda của Thích Ca Mâu Ni, người sẽ được phong làm hoàng thái tử và có đính ước với công chúa Tôn Đà Lị Sundari, cũng quyết định bước chân vào con đường tu luyện và trở thành đồ đệ của Thích Ca Mâu Ni. Sau đó, con trai của Thích Ca Mâu Ni là La Hầu La và mẹ cũng đã trở thành đồ đệ của ông. Tuy nhiên, những can nhiễu và ghen tỵ hãm hại cũng có Đề Bà Đạt Đa Devadutta, anh họ của Thích Ca Mâu Ni, đã cố gắng sát hại ông rất nhiều lần vì lòng ghen tỵ, nhưng Đức Phật đều tha thứ cho ông với lòng từ bi của mình. Tướng cướp Vô Não Ương Quật Ma La – Angulimal cũng đã cố gắng sát hại ông nhưng cuối cùng lòng từ bi của ông đã hóa giải tất cả và khiến tướng cướp quy phục và cũng trở thành đồ đệ của ông. Vào đêm trăng tròn đúng tháng sinh của mình, năm 483 TCN, Thích Ca Mâu Ni đã truyền dạy đệ tử lần cuối trước khi nhập Niết Bàn. Siddhārtha Gautama tiếng Phạn सिद्धार्थ गौतम, chữ Hán 悉達多瞿曇, phiên âm Hán-Việt Tất-đạt-đa Cồ-đàm hay Gautama Buddha, còn được gọi là Phật Shakyamuni tiếng Phạn शाक्यमुनि, chữ Hán 釋迦牟尼, phiên âm Hán-Việt Thích-ca Mâu-ni, trong khẩu ngữ thường gọi là Phật, Bụt, Phật Tổ, Đức Thế Tôn hoặc Đức Phật là nhà tu hành, nhà truyền giáo, nhà thuyết giảng, nhà triết học và đạo sư sống ở Ấn Độ cổ đại, người sáng lập Phật giáo. Sinh ra ở vùng đất ngày nay là Nepal nhưng khoảng thời gian quan trọng nhất của Tất-đạt-đa gắn liền với các khu vực mà ngày nay là Ấn Độ khi ông đi xuống phía Đông và Nam để truyền đạo. Tín đồ Phật giáo xem ông là người đầu tiên hoàn toàn giác ngộ để đạt niết bàn thành Phật. Một phần của loại bài vềPhật giáo Lịch sử Niên đại phát triển Thích-ca Mâu-ni Thập đại đệ tử Phật giáo Nguyên thủy Đại hội kết tập Bộ phái Phật giáo Phật giáo Hy Lạp hóa Phật giáo qua Con đường tơ lụa Phật giáo suy tàn ở Ấn Độ Phong trào Phật giáo hiện đại Khái niệm Pháp Pháp luân Trung đạo Tứ diệu đế Bát chính đạo Ngũ uẩn Vô thường Khổ Vô ngã Duyên khởi Giới Tính Không Nghiệp Tái sinh Luân hồi Vũ trụ học Phật giáo Kinh điển Kinh văn sơ kỳ Kinh văn Đại thừa Tam tạng Kinh điển Pāli Kinh văn Tạng ngữ Kinh văn Hán ngữ Tam học Tam bảo Quy y Giải thoát Ngũ giới Ba-la-mật-đa Thiền Tư tưởng Pháp cúng Công đức Niệm Chánh niệm Bát-nhã Tứ vô lượng Tam thập thất bồ-đề phần Tu học Cư sĩ Tụng kinh Hành hương Trai thực Niết-bàn Giác ngộ Tứ thánh quả A-la-hán Duyên giác Bồ tát Phật Tông phái Thượng tọa bộ Đại thừa Kim cương thừa Thiền tông Tịnh độ tông Ở các nước Ấn Độ Sri Lanka Campuchia Thái Lan Myanmar Lào Trung Quốc Việt Nam Đài Loan Nhật Bản Hàn Quốc Triều Tiên Malaysia Tây Tạng Bhutan Mông Cổ Khác Trung Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Đại dương, Hoa Kỳ, Nga, Nepal, Tân Cương, Indonesia, Brunei ... Cổng thông tin Phật giáoxts Theo kinh Phật cùng sử liệu thì ông vốn xuất thân là một thái tử thuộc vương tộc Gautama của tiểu quốc Shakya ở vùng Kapilavastu. Tuy nhiên, ông sớm từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý để lên đường đi tìm chánh đạo. Sau 6 năm tu đạo, ông đạt được giác ngộ chính pháp vào năm 35 tuổi và dành tiếp 45 năm còn lại cho việc truyền bá, giảng dạy giáo lý Phật pháp trên khắp những khu vực ở Đông và Nam tiểu lục địa Ấn Độ.[4][5] Tất-đạt-đa đề xướng con đường Trung đạo - tức vừa từ bỏ đời sống xa hoa nhưng cũng không đi theo lối tu hành ép xác khổ hạnh vốn rất thịnh hành trong các học thuyết tôn giáo Ấn Độ thời đó.[6] Giáo pháp của ông đặt nền tảng cho sự hình thành và phát triển của giáo lý đạo Phật ngày nay.[7][5] Ông được các Phật tử coi là một bậc đạo sư, người giác ngộ tự giải thoát bản thân khỏi quy luật sinh tử luân hồi đồng thời hiểu rõ được bản chất của mọi sự vật sự việc. Chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của ông được nhiều thế hệ học trò ghi nhớ và tổng hợp lại sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhập Niết-bàn. Hàng loạt bản kinh ghi lại lời dạy của ông được lưu giữ qua nhiều thế hệ và dần bắt đầu được viết thành sách 200 năm sau đó. Chí nguyện đã chín muồi, vào ngày trăng tròn tháng hai sau một buổi yến tiệc linh đình trong hoàng cung ngài đã cùng với người hầu thân cận Xa-nặc, với con ngựa Kiền-trắc âm thầm từ biệt cha già, vợ con, người thân rời khỏi kinh thành Vài ý nghĩ nhỏ về đức dũng của người Phật tửĐức Phật Thích Ca xuất hiện trên cõi ta-bà này đã hai mươi sáu thế kỷ và giáo pháp của ngài giờ đây đã lan tỏa khắp cùng năm châu bốn biển. Nếu nói ngài là một vị giáo chủ của một tôn giáo thì đúng là ngài là một vị giáo chủ đặc biệt nhất không giống như bất kỳ vị giáo chủ nào của các tôn giáo khác trên toàn cầu. Trước hết điều đặc biệt nhất là ngài là một giáo chủ nhưng xuất hiện ở trần gian trong hình hài một con người như hàng triệu triệu con người khác trên hành tinh. Điều tiếp theo là hình như chưa có vị giáo chủ một tôn giáo nào mà đặt vị trí của tín đồ ngang hàng với mình như Đức Phật Phật và chúng sanh cùng một thể tánh, cũng không có vị giáo chủ nào tuyên bố rằng nếu tín đồ cố gắng tu hành thì sẽ đắc quả ngang với mình như đức Phật Lời Phật Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Chỉ ba điều đặc thù này thôi cũng đủ cho thấy Đức Phật là một vị giáo chủ siêu việt và bình đẳng như thế nào. Cũng vì những nét đặc thù như thế nên mặc dầu đã ra đời cách đây hai mươi sáu thế kỷ nhưng đến nay giáo lý đạo Phật vẫn là có một sự thu hút mãnh liệt đối với những ai yêu thích nghiên cứu hoặc tu tập theo tôn giáo này. Trở lại với Đức Phật, sau khi tự tìm ra chân lý về vũ trụ và nhân sinh ngài đã đem ánh sáng đạo mầu đó giáo hóa cho chúng sanh trong suốt bốn mươi lăm năm theo giáo lý Nguyên Thủy và để lại cho nhân loại một kho tàng kinh điển đồ sộ mà muốn đọc qua một lượt tất cả những kinh điển đó e cần phải bỏ ra cả một đời người! Đối với đa số các tôn giáo khác thì tín đồ đều y nương vào giáo lý của vị giáo chủ đã tuyên thuyết để thực hành là được, vì những vị giáo chủ đó không phải là một con người mà họ là bậc thánh nên hành vi của họ không phải là hành vi của một con nguời bình thường, nhưng đối với Phật giáo thì ngoài việc thực hành những lời dạy của Đức Phật trong giáo điển ra, cuộc đời của Đức Phật cũng là một bài thuyết giáo không lời và rất hiệu quả. Thật vậy cuộc đời của đức Phật từ khi sơ sanh cho đến khi nhập diệt là những bài giáo pháp rất thiện xão mà người phật tử cần chiêm nghiệm để tu tập. Các nhà viết sử đã ghi nhận rằng vào thời Đức Phật còn tại thế những người tìm đến xin xuất gia cầu học đạo với ngài đa số họ ngưỡng mộ chính là hành vi nhân thân của ngài hơn là nghe giáo pháp của ngài. Đức Phật lịch sử đã ra đời cách đây hai mươi sáu thế kỷ, một thời gian khá lâu để cho chúng ta có thể tìm hiểu một cách chính xác nhất về chi tiết cuộc đời của ngài. Hiện nay chúng ta được biết cuộc đời của ngài qua kinh sách, qua những lời truyền tụng từ nhiều đời được những nhà viết sử ghi lại, trong đó có những hiện tượng huyền bí đan xen vào. Là những phật tử sống cách xa Đức Phật đến hơn hai ngàn sáu trăm năm vì thế chúng ta cũng không dám tìm hiểu và xác quyết thật hư câu chuyện về cuộc đời ngài. Trước hết vì ngài là một vị bồ-tát giáng trần theo nguyện lực thì những hiện tượng kỳ bí trong cuộc đờì ngài là một điều hoàn toàn có thể xảy ra, cũng có thể những đệ tử hậu lai của ngài vì quá tôn sùng ngài mà vẽ vời thêm những câu chuyện huyền bí chung quanh cuộc đời ngài để tôn vinh ngài và tăng phần thuyết phục đối với người đời sau … Thái độ của người phật tử chúng ta là nên tiếp nhận tất cả mà không nên phân tích, lý luận thực hư theo nhãn quan của phàm phu để rồi rơi vào cực đoan hoặc giao động niềm tin là một điều không nên. Vì cho dù xét cuộc đời ngài về khía cạnh lịch sử thực tế hay huyền sử thì cái nào cũng có những mặt tích cực của nó. Nhân kỷ niệm ngày đức Phật xuất gia tìm đạo 8/2 âm lịch, xin mạo muội phân tích sự kiện quan trọng này dưới nhãn quan của một người phật tử phàm phu và vì thế xin được phép đặt sự kiện thái tử xuất gia như là hành động của một con người bình thường. Lịch sử đã ghi lại thái tử Tất-đạt-đa sinh ra trong một gia tộc vương quyền, phụ thân của ngài là quốc vương của thành Ca-tỳ-la-vệ, vì vậy đương nhiên ngài là một hoàng tử. Tìm hiểu lịch sử chúng ta cũng biết rằng thành Ca-tỳ-la-vệ hồi đó chỉ là một tiểu quốc và đời sống người dân xứ đó cách đây 26 thế kỷ chắc chắn rất nghèo và có một lối sống còn hoang sơ lắm! Chắc chắn là không có được một hoàng thành nguy nga tráng lệ và con người với những phục sức đẹp đẻ, sang trọng như chúng ta thấy trên phim ảnh hoặc tranh, truyện tái hiện về cuộc đời ngài hiện nay. Nhưng chúng ta cũng cần biết một điều là ở cái xứ mà phân biệt giai cấp hàng đầu thế giới như thế thì những người trong giai cấp sát-đế-lỵ, hơn nữa là một thái tử là một người sắp nối ngôi vua cha trong tương lai thì mọi tiện nghi phục vụ cho đời sống của ngài chắc chắn là phải xa hoa sung sướng kể rằng sau khi thái tử hạ sanh được ông tiên A-tư-đà đến tiên đoán rằng sau này nếu làm vua sẽ là một bậc chuyển luân thánh vương cai trị khắp thiên hạ, còn nếu xuất gia tu hành thì sẽ đạt quả vị giác ngộ và làm vị giáo chủ . Với niềm mong mỏi có được một người con nối nghiệp vương quyền nên vua Tịnh-phạn đã làm tất cả để hướng cuộc sống và tâm tư của thái tử theo hướng hưởng thụ dục lạc thế gian như xây cung vàng điện ngọc, được học hành với những vị thầy tài danh nhất, được hầu hạ bởi những cung nữ xinh đẹp nhất, được ăn những món cao lương mỹ vị nhất và sau này khi trưởng thành được cưới nàng công chúa Da-du-đà-la xinh đẹp nhất. Bên cạnh đó vua tìm cách không cho ngài tiếp xúc với bất kỳ cảnh khổ nào của thế gian đang xảy ra chung quanh, để ngài chỉ thấy chung quanh mình là một cuộc sống xa hoa sung sướng mà không hề có ý niệm nào về cảnh khổ cuộc đời ! Có thể ví ngài là một con chim được nuôi từ khi mới ra khỏi trứng trong cái lồng vàng bị bịt kín! Thế nhưng với tâm thức của một vị Bồ-tát tái thế, chỉ cần một vài cảnh khổ của trần gian lọt vào mắt ngài, và với tư duy tuệ giác của một vị Bồ-tát đang hiện thân để thực hành hạnh nguyện, ngài đã “thấy” được tất cả sự huyển hóa của chốn trần gian và khổ đau của nhân loại và vì thế chí nguyện xuất gia tìm đạo cứu độ chúng sanh cứ nung nấu tâm can ngài không lúc nào rời khỏi. Bao nhiêu dục lạc trong chốn cung cấm mà ngài đang có đã không làm cho ngài vơi đi nỗi niềm này. Thế rồi khi chí nguyện đã chín muồi, vào ngày trăng tròn tháng hai sau một buổi yến tiệc linh đình trong hoàng cung ngài đã cùng với người hầu thân cận Xa-nặc, với con ngựa Kiền-trắc âm thầm từ biệt cha già, vợ con, người thân rời khỏi kinh thành. Đến bờ sông Anoma ngài xuống ngựa dùng gươm cắt tóc, cởi hoàng bào đưa và dặn Xa-nặc về tạ tội với phụ vương xin hãy tha thứ và đừng tìm ngài nữa vì từ đây ngài đã quyết chí xuất gia tìm đạo cứu chúng sanh. Thế là ngài đã dứt áo ra đi, từ đây mở ra một chân trời mới, một mình một bóng ngài đã lặn lội nơi đèo sâu núi thẳm để tìm đạo. Thế rồi sau hai lần học đạo, sáu năm khổ hạnh rừng già, cuối cùng là bốn mươi chín ngày tham thiền nhập định dưới gốc cây tất-bát-la bên dòng sông Ni-liên-thuyền ngài đã chứng thành đạo quả tìm ra chân lý cứu chúng sanh. Kể từ đó ngài đem ánh đạo mầu hoằng hóa và cho đến bây giờ trải qua hai mươi sáu thế kỷ ánh đạo vàng đã sáng soi khắp cõi ta-bà, cứu độ muôn vàn chúng sanh thoát khỏi bể khổ trầm luân, đồng thời để cho hôm nay chúng ta được duyên phước nhận mình là đệ tử của ngài và học theo ngài trên hành trình giải thoát biển khổ đến bến bờ an vui, giải thoát. Xét về cuộc đời của đức Phật lịch sử, chúng ta thấy ngài xuất hiện giửa cõi trần thế này với một hình ảnh một con người đích thực, cũng phải chịu luật vô thường chi phối, cũng phải trải qua các giai đọan của một đời người là sinh-già-bệnh-chết, cũng đầy đủ thất tình, lục dục của kiếp nhân sinh. Nhưng cái khác biệt lớn nhất giửa ngài và chúng ta là ngài đã vượt thoát ra tất cả, ngài đã đoạn trừ khỏi mọi dục lạc thế gian mà ngài đang hưởng thụ. Cuộc sống với những tiện nghi xa hoa mà ngài đang có là niềm mơ ước của biết bao người, thế nhưng ngài đã dứt khoát buông bỏ để dấn thân làm người du sĩ ngày đêm lặn lội nơi rừng sâu núi thẳm, âm thầm tìm chân lý cứu chúng sanh. Đang có một đời sống ngập chìm trong mọi dục lạc cao sang của một vị thái tử vì sao mà ngài lại cam đảm từ bỏ như thế? Phải chăng vì ngài vốn là một một bậc đã hoàn toàn giác ngộ và tất cả những gì xảy ra trong đời ngài chỉ là một sự “thị hiện” để làm gương, chỉ là một pháp phương tiện để giáo hóa chúng sanh?. Nếu thật sự như thế thì giáo pháp của ngài khó mà thuyết phục được hậu thế noi theo để tu tập vì ai cũng sẽ nghĩ rằng -Dầu sao thì ngài cũng là một vị Phật rồi, nên những hành vi của ngải để đạt được quả vị giác ngộ là điều đương nhiên và tất cả những gì diễn ra trong cuộc đời đức Phật chỉ là mang tính phương tiện để giáo dục tín đồ, chứ phàm phu tục tử như chúng ta ai mà làm được như ngài! Thế cho nên ngài cũng chỉ là một con người, nhưng là một con người có TRÍ TUỆ tuyệt vời và đang mang hạnh nguyện của một vị bồ-tát giáng trần nên dù được sống trong nhung lụa và hằng ngày chỉ thấy chung quanh mình những điều tốt đẹp đang diễn ra, nhưng chỉ cần một đôi lần chứng kiến những cảnh khổ ở đời ngài cũng đã “thấy” được nỗi khổ đau của kiếp sống nhân sinh. Là một con người với tâm ĐẠI BI nên ngài có một trái tim rộng lớn, không chỉ biết thương yêu cha mẹ, vợ con và những người thân mà ngài đã đem tâm từ rải khắp quần sanh, thương xót chúng sanh đang trầm luân trong biển khổ. Với tâm đại bi nên ngài không chỉ biết giúp đở họ bằng vật chất như sự hành xử của một con người bình thường mà ngài đã quyết chí đi tìm cho ra ngọn ngành của sự khổ và từ đó tìm cho được con đường thoát khổ, tìm cho ra giải pháp đoạn trừ đau khổ tận gốc rể để cứu độ tất cả chúng sanh. Với tâm ĐẠI TRÍ nên dù chứng kiến rất ít nhưng ngài đã thấy tất cả khổ đau mà chúng sanh đang ngụp lặn trong đó, với tâm ĐẠI BI ngài đã chọn con đường thoát ra khỏi ngục vàng của chốn hoàng cung, hy sinh tình yêu thương với những người thương yêu nhất là cha già, vợ con, thân quyến để dấn thân tìm đạo để cứu đời. Nhưng để hiện thực hóa tâm đại bi, đại trí và để đạt được chí nguyện ấy ngài phải có một DŨNG LỰC kiên cường mới thực hiện được. Vì xuất thân là một con người nên ngài cũng phải chiến đấu quyết liệt với bản thân để hy sinh tình thương của cha già, vợ đẹp, con thơ và những tình thân khác, ngài cũng phải kiên cường lắm mới từ bỏ ngai vàng đầy quyền uy và những dục lạc đang thụ hưởng để dứt áo ra đi dấn thân vào rừng hoang, núi sâu đối diện với bao gian lao, chướng ngại để tìm đạo… Cuộc hành trình tìm chân lý của ngài còn nhiều điều để phật tử hậu lai suy ngẫm và học hỏi, nhưng cái thời khắc bi tráng nhất có lẽ là lúc ngài đứng bên bờ sông Anoma dùng gươm cắt tóc và cởi hoàng bào đưa cho Xa-nặc. Chúng ta không khỏi động lòng khi hình dung giây phút bi hùng ấy, giây phút mà thanh gươm báu cắt đứt mái tóc dài của người, nhóm trần lao kia đã ra khỏi thân ngài như là một lời nguyện kể từ đây con đường ngài đi dù bao nhiêu gian khổ cũng quyết tìm cho ra chân lý, dù bao nhiêu chướng ngại cũng không thối chuyển tâm nguyện. Chí nguyện ấy thật kiên cường biết bao và cuối cùng ngài cũng đã thành tựu đạo quả để cho hôm nay nhân loại được tắm gội trong ánh hào quang tỏa rạng giáo pháp của ngài. Một bậc đại giác đã viên thành đạo quả, một giáo pháp được lan truyền cứu độ vô số chúng sanh suốt chiều dài hai mươi sáu thế kỷ và mãi mãi về sau. Tất cả đã đươc khởi đầu bằng một cuộc chia ly đậm chất bi tráng và hào hùng. Bởi vậy có thế nói sự kiện thái tử Tất-đạt-đa xuất gia là biểu tượng của TỪ BI, TRÍ TUỆ VÀ DŨNG LỰC vậy./. Siddhartha Gautama hay Tất-đạt-đa Cồ-đàm, Cù-đàm phiên âm Hán Việt từ tiếng Phạn 悉達多 瞿曇, còn được người đương thời và các tín đồ đạo Phật sau này tôn xưng là Shakyamuni; Devanagari शाक्यमुनि; phiên âm Hán Việt từ tiếng Phạn 释迦牟尼, nghĩa là Bậc thức giả tộc Thích Ca, hay gọi đơn giản là Phật. Vị vua cai trị thành quốc Ca-tỳ-la-vệ Kapilavastu. Câu 2 Cha của Thái Tử Tất Đạt Đa tên là gì? a. Asita A Tư Đà b. Suddhodhana Tịnh Phạn c. Đề Bà Đạt Đa Lan Anh - Tổng hợp Từ khóa Đức Phật Thích Ca10 Đức Phật Thích Ca Mâu Ni5 Cha của Thái Tử Tất Đạt Đa1 Cồ Đàm1 Siddhartha Gautama2

hoàng tử tất đạt đa