tiểu sử thiền sư vạn hạnh

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG NGỘ CHÂN TỬ (1901-1988) ( HÒA THƯỢNG KHAI SƠN CHÙA HOẰNG PHÁP ) Hòa thượng Ngộ Chân Tử thế danh là Trần Rinh, sinh ngày mùng 3 tháng 3 năm Tân Sửu (1901), tại tỉnh Thái Bình trong một gia đình Nho học. Thân phụ là cụ Trần Quán, thân mẫu Tiểu sử sư Vạn Hạnh. Thiền sư họ Nguyễn, quê châu Cổ Pháp, (nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), từ thuở nhỏ đã thông minh, học thông Nho, Lão, Phật và nghiên cứu hàng trăm bộ luận Phật giáo. Năm 21 tuổi ông xuất gia, tu học với bạn là thiền sư Ðịnh Tuệ - Năm 1949, Ngài được Hòa Thượng Bổn Sư cử giữ chức Thủ Tọa chùa Thiền Lâm. - Năm 1950, khi vào tu học tại Tăng Học Đường Nha Trang, Ngài được Ban giám đốc và Đại chúng đề cử giữ chức Thủ chúng để điều hành mọi sinh hoạt của chúng Tăng. Vì thế, Tăng Ni và Phật tử lúc ấy gọi Ngài là "Thầy Thủ". Vạn Hạnh Thiền Sư (07/06/2012) Tiểu sử Hòa Thượng Thích Đức Nhuận (06/06/2012) ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC (18/06/2012) Nhà báo trăm tuổi (19/07/2012) Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu viên tịch (02/09/2012) Video: Cuộc đời và Đạo nghiệp của Hòa Thượng Thích Minh Châu (02/09/2012) Thiền Sư Tăng Hội. Tác giả : Nhất Hạnh Nhà xuất bản : An Tiêm Mục lục • Lời mở đầu • Khởi nguyên của Đạo Bụt Việt Nam • Thiền học của Thiền sư Tăng Hội • Hình thức và nội dung của thiền • Quán niệm và quán tưởng • Phương pháp đạt thiền • Bài tựa kinh An Ban Thủ Ý Site De Rencontre Pour Mariage Halal. Tiểu sử Thiền sư Vạn Hạnh theo “Đại nam Thuyền uyển Truyền đăng Tập lục” “Đệ thập nhị thế, thất nhân, nhị nhân khuyết lục. Vạn Hạnh thiền sư. Thiên đức phủ, Dịch bảng hương, Lục tổ tự, Vạn Hạnh thiền sư, Cổ pháp nhân dã. Tính Nguyễn thị,gia thế phụng Phật. Sư ấu tuế siêu dị, cai quán tam học, nghiên cứu Bách luận kỳ thị hiên miện đạm như đã. Niên nhị thập nhất xuất gia dữ Định Huệ câu sự Lục tổ Thiền Ông, cân lý chi hạ, học vấn vong quyện. Ông diệt hậu, nãi chuyên tập Tổng trì tam ma địa môn dĩ vi kỷ vụ. Thời hoặc phát ngữ tất vi thiên hạ phù sấm. Lê Đại Hành Hoàng đế sưu sở tôn kính. Thiên phúc nguyên niên Tống Hầu Nhân Bảo lại khấu, đồn quân vu Cương giáp Lãng sơn. Đế triệu sư vấn viết Thắng, bại? Đối viết Tam thất nhật trung, tặc tất thoái! Hậu quả nhiên. Cập dục phạt Chiêm thành dữ nghị vị định, sư tấu thỉnh tốc hành vô thất cơ hội. Hậu chiến quả thắng. Thường hữu gian nhân Đỗ Ngân dục mưu hại sư, sư dự ư vị phát, tống dĩ kệ vân Thổ, Mộc tương sinh Ngân dữ Kim, Vi hà mưu ngã uẩn linh khâm; Đương thời Ngủ Khẩu Thu Tâm tuyệt Chân chí vị lai bất hận tâm. Ngân cụ nãi chỉ. Kỳ tiên tri vãng giám xuất đa loại thử. Thời Ngọa triều hà bạo, thiên nhân yếm đức. Lý thái tổ thời vi Thân vệ vị túc thủ thiện vị. Kỳ gian yêu tường tạp xuất như Cổ pháp Ứng thiên Tâm tự Hàm Toại viện, bạch khuyển mao bối thành Thiện tử tự, lồi chấn mộc miên thụ văn tích, Hiển Khánh đại vương mộ tứ phương dạ tụng thanh, Song lâm tự, dung mộc bì trùng thực văn thành Quốc tự đẳng sự, giai tùng kỳ văn kiến nhi biện tích chi, mỗi phù “Lê khuệ Lý hưng chi triệu”. Cố Thái tổ túc vị nhật, sư tại Lục Tổ tự tiên tri chi, vị bá thúc nhị vương viết Thiên tử dĩ băng, Lý Thân vệ tại gia Lý để thành nội túc trực, thiện sổ nhật trung Thân vệ tất đắc thiên hạ. Nãi bảng ư thông cù viết Tật Lê trầm bắc thủy, Lý tử thụ nam thiên Tứ phương can qua tĩnh Bát biểu hạ bình an. Nhị Vương văn chi thậm cụ, sử nhân tư vấn, quả như ngôn. Hậu dĩ Thuận Thiên cửu niên, ngũ nguyệt, thập ngũ nhật, vô tật thuyết kệ vân Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bổ úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. Hựu thị đồ viết Nhữ đẳng yếu vãng hà xứ? Ngã bất dĩ sở trụ nhi trụ bất ỷ vô trụ nhi trụ! Hưu khoảnh nãi thệ. Đề cập sĩ thứ thu kỳ đồ duy dư cốt khởi tháp dĩ hướng hỏa yên. Nhân Tông hữu truy tặng kệ vân Vạn Hạnh dung tam tế Chân phù cổ sấm ky; Hướng quan danh Cổ pháp Trụ tích trấn vương kỳ. Đại nam thuyền uyển truyền đăng tập lục. Dịch nghĩa Đời thứ XII dòng Tì Ni có 7 người, 2 người thiếu truyện. Thiền sư Vạn Hạnh … 1025 Thiền sư là người Cổ pháp làng Dịch bảng, phủ Thiên đức ở chùa Lục tổ. Sư vốn họ Nguyễn, đời đời trong nhà thờ Phật. Thuở nhỏ sư tỏ vẻ khác thường học thôn Tam tạng là ba học, nghiên cứu đến Bách luận. Sư coi công danh lạt lẽo. Năm 21 tuổi thì xuất gia, cùng với Định Huệ thờ Thiền Ông làm thầy ở chùa Lục Tổ. Ngoài giờ phục vụ, sư học hỏi không biết mỏi. Sau khi Thiền Ông quy tịch rồi, sư chuyên luyện tập khoa Tổng trì Tam muội lấy làm nhiệm vụ chuyên của mình, thường nói ra lời thành phù sấm tiên tri ở thời bấy giờ cho thiên hạ. Vua Lê Đại Hành hết sức tôn trọng sư. Năm đầu niên hiệu Thiên phúc 980 có tướng nhà Tống bên Tầu là Hầu Nhân Bảo đem quân đến xâm lược, đóng quân ở núi Cường giáp Lãng. Vua mời sư đến hỏi về sự thắng bại của quân ta. Sư tâu vua rằng Trong 3-7 21 ngày giặc ắt thoái lui. Sau quả nhiên như thế. Đến khi vua định đi đánh Chiêm thành triều đình bàn nghị phân vân chưa quyết, sư liền tâu xin gấp đi đánh không thì bỏ lỡ mất cơ hội. Về sau đánh quả nhiên toàn thắng. Bấy giờ có kẻ thù hiềm sư, tên là Đỗ Ngân ngầm định mưu hại, sư liệu trước khi xảy ra, cho người mang bài kệ đến y Thổ Mộc tương sinh Kim với Cân Cớ sao mưu hại giấu trong thân Lúc này lòng ta buồn hết sức Thật đến sau ta chẳng hận ngầm. Chữ Thổ với chữ Mộc là chữ Đỗ. Chữ Cân với chữ Kim là chữ Ngân. Chữ Ngũ với chữ Khẩu là chữ là Ta Chữ Thu với chữ Tâm là chữ Sầu. Tên Ngân sợ liền thôi. Đại khái nhiều sự việc như thế cả. Thời ấy vua Lê Ngọa triều bạo ngược tàn ác, trời người đều chán ghét. Lý Thái Tổ còn đang làm Thân vệ, chưa nhận nhường ngôi. Trong khoảng thời gian ấy có nhiều điềm báo trước lành dữ lẫn lộn, như ở châu Cổ pháp, chùa Ứng thiên tâm, viện Hàm toại, lông trên lưng chó trắng hiện thành chữ Thiên tử, sét đánh vào cây bông gạo thành vết chữ văn, ở mộ Hiển Khánh Đại vương đêm đến bốn phía có tiếng tụng đọc. Ở chùa Song lâm, vỏ cây xi sâu ăn thành vệt chữ quốc. Tất cả các sự ấy được sư mắt thấy tai nghe mà phân giải đều ứng vào điềm nhà Lê đổ nhà Lý lên thay. Bởi thế mà ngày Lý Thái tổ lên ngôi, sưở chùa Lục tổ đã biết trước rồi nên mới nói với anh em vua rằng “Thiên tử băng hà, Lý Thân vệ hiện đang túc trực trong thành, khoảng một ngàn ngày nữa thì Thân vệ tất được cả thành, khoảng một ngàn ngày nữa thì Thân vệ tất được cả thiên hạ.” Rồi sư thông báo yết bảng trên đường đi lại rằng Nhà Lê chìm biển tắc Nhà Lý nẩy phương nam Bốn phương hết đâm chém Khắp nước hưởng bình an. Hai ông Hoàng nghe thấy rất sợ, sai người dò hỏi thì quả thật như lời. Về sau vào niên hiệu Thuận thiên thứ 16 1025 ngày 15 tháng 5 sư không bệnh, thuyết bài kệ Thân người chớp nhoáng có rồi không Cây cỏ xuân tươi, héo thu đông Tùy vận thịnh suy không sợ hãi Thịnh suy ngọn cỏ hạt sương trong. Lại bảo đệ tử rằng Các con đòi đi đâu về đâu? Ta không lấy nơi dừng để dừng, không nương vào nơi không dừng để dừng”. Được một lát thì mất. Vua Lý Thái tổ cùng các quan dân thu lượm xá lỵ hỏa thiêu, còn lại xây tháp để phụng thờ. Vua Lý Nhân tông về sau có bài kệ truy tặng Vạn Hạnh họp ba kiếp Chân thật lời sấm xưa Quê hương tên Cổ pháp Gậy Pháp giữ nghiệp vua. Trên đây là tài liệu chính thức cốt yếu về Vạn Hạnh theo sách “Thiền uyển truyền đăng tập lục” một tác phẩm đầu nhà Trần đáng tin cậy, đã được các học giả “Trường Viễn đông bác cổ” E. F. E. O ở Hà nội kiểm nhận là tài liệu lịch sử chính xác. Ngoài ra nói về Vạn Hạnh ở chính sử cũng thấy những điều phù hợp với “Thiền uyển truyền đăng tập lục” trên đây. Việt sử lược có ghi, liên quan đến Vạn Hạnh như sau “ Vua Lý Thái tổ khi còn bé đã thông minh khí độ rộng rãi. Du học chùa Lực tổ, sư Vạn Hạnh trong thấy vua lấy làm lạ nói rằng “ Đây là một người phi thường! Sau này lớn mạnh lên, tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ!”. … Trong hương vua ở có cây gạo bị sét đánh, để dấu vết thành chữ như sau Thụ căn diểu diểu Mộc biểu thanh thanh Hòa đao mộc lạc Thập bát tử thành. Chấn cung hiện nhật, Đoài cung ẩn tinh. dịch Rễ cây thăm thẳm Vỏ cây xanh xanh. Cây hòa đao rụng, Mười tám hat thành Phương đông hiện nhật Non đoài ẩn tình. Khoảng sau bẩy năm Thiên hạ thái bình. Sư Vạn Hạnh bèn nói với vua rằng “Gần đây, tôi thấy lời sấm lạ, biết rằng nhà Lê tất phải mất mà nhà Nguyễn Lý tất phải lên. Họ Nguyễn Lý không ai nhân từ khoan dung như ông,lại được lòng dân. Tôi đã hơn 70 tuổi, chỉ ân hận không kịp thấy đời thịnh trị mà thôi”. Vua sợ lời nói ấy bị tiết lộ, bảo Vạn Hạnh đến ẩn náu ở Ba sơn. Việt sử lược II, 1b Năm Thời Sĩ trong “Việt sử tiêu tán” cũng ghi và bình về Vạn Hạnh rằng “Vạn Hạnh vô bệnh mà chết, người đời bấy giờ bảo là ông hóa thân. Vạn Hạnh có bài thơ rằng Thân như điện ảnh hữu hoàn vô. Vạn mộc xuân sinh thu hựu khô. Nhậm vận thịnh suy vô bố úy. Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. Vua thân đến thăm, lập đàn siêu độ. Sử thần bàn rằng “Vạn Hạnh có kiến thức cao siêu, thần toán, biết trước mọi việc cũng là tay xuất sắc trong giới thiền, nhưng mà hay xách ẩn hành quái chỉ tu luyện về thuật không tu luyện về đạo, tạo ra các câu sấm, lưu truyền làm mê hoặc cho đời, mở mào ác nghiệp cho đời sau. Nhà Phật nói rằng “Hết thẩy đều do tâm người tạo nên. Vạn Hạnh là thủ phạm đấy. Tiểu sử chỉ chép là “tử” đáng lắm. “Việt sử tiêu án” – Ngô gia văn phái Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ – Bản dịch Văn hóa Á châu trang 112-113. TỪ YÊN LẶNG CỦA ĐỨC PHẬT ĐẾN THIỀN CỦA VẠN HẠNH Như chúng ta đã biết Vạn Hạnh từ Phật giáo nguyên thủy của Tam học là Giới, Định, Tuệ đi đến triết học Trung quán của Bách luận rồi mới gia nhập vào Thiền tông Tì Ni Đa Lưu Chi, vì Tì Ni cũng từ triết lý “Bát bất” của Long Thọ để dẫn Pháp Hiền vào Thiền học. Ý thức nhân loại khai triển qua ba giai đoạn từ giáo điều phác nghiệm đến phản tình suy lý, lại từ suy lý đến giác ngộ là trực giác thuần túy. Ở đây Vạn Hạnh cũng từ Phật giáo nguyên thủy là tín ngưỡng giáo điều đi đến phê phán lý trí tức là triết học Đại thừa mà Trung quán luận là nồng cốt tinh hoa vậy. Giáo lý nguyên thủy của đức Phật Thích ca lịch sử là Tứ Diệu đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Bát Chính đạo Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chánh Tinh tiến, Chính niệm, Chính định. Thập nhị nhân duyên Danh sắc Nama Rupa Tên gọi Hình tướng Lục nhập Sadayatana Sáu giác quan Xúc Sparsa Tiếp xúc Thụ Vedana Cảm giác Ái Trsna Khát vọng Thủ Upadana Thu nhận Hữu Bhava Sinh tồn Sinh Jati Lão tử Jaramarana. Trên đây toát yếu giáo lý của Phật, không phải một hệ thống triết lý mà là một con đường giải thoát, một chỉ dẫn để khai thông cho cái dòng sinh mệnh khỏi bế tắc. Đấy không phải là lý thuyết. Phật tránh lý thuyết mà chỉ bảo cho đường lối sống thông đồng khai phóng, vì “bất thông tắc thông” “bế tắc thì đau khổ”. Đúng như một bánh xe bò đang lăn, chỉ có một điểm của bánh xe chấm đất. Và khi nó dừng lại cũng chỉ dừng ở một điểm. Cũng đúng như thế mà cuộc đời sống của một chúng sinh chỉ tồn tại trong khoảnh khắc sạt-na của một ý niệm. Hể niệm ấy tắt thì sinh tồn cũng dứt… Bánh xe điều lý vũ trụ vận hành lăn đi không có sáng tạo vô thủy vô chung.” Visuddhimagga Biến động sinh thành thi ngụ ở bên trong có đối kháng mâu thuẫn. Chừng nào đứng ở bên trong mà tìm ngoi ra như dòng sông chảy ra biển thì chỉ biết thể hiện khai triển mà tự đặt vấn đề tri thức có hay không, sinh tồn vĩnh cửu hay không vĩnh cửu. “Chủ trương thế giới vĩnh cửu hay chủ trương nó không vĩnh cửu, hoặc biểu tình với một mệnh đề nào khác anh suy diễn ra, này Vaccha, ấy là một rừng thuyết lý, hoang vu thuyết lý bối rối thuyết lý, ràng buộc rừng chằng chịt về thuyết lý, lâm vào bệnh hoạn, tuyệt vọng, cuồng loạn, phát sốt. Nó không đưa đến cởi mở tự do thản nhiên, bình tĩnh, an hòa, hiểu biết và trí tuệ về Niết bàn. Đấy là sự nguy hiểm Ta thấy ở những quan điểm khiến ta gạt bỏ đi hết thẩy. Trung A hàm Majjh. Nikaya Và bài thuyết pháp đầu tiên tại thành Lộc đã sermon at Saanatha đức Phật Thích ca cũng tuyên bố “Này các thầy sa môn! Ở đời có hai điều thái quá, người tu đạo phải lánh cho xa. Hai điều ấy là gì? Một là đam mê trong sắc dục, hai là tự bắt khổ hạnh. Như lai đã tìm thấy con đường Trung Đạo để mở mắt, mở trí cho người đời khiến cho họ tinh thần bình tĩnh, thông suốt sáng tỏ tới Niết Bàn. Tới Niết bàn là ra khỏi, vượt lên trên thế giới đau khổ của sinh tồn vô minh tức là thế giới tương đối nhân duyên khởi vậy, Thuyết Nhân duyên là cơ bản giáo lý đức Phật chủ trương biện sinh là liên hệ, mà bắt đầu từ ý chí sinh tồn mê lầm, vô minh. Diệu đế I chính là Vô minh – Hành là hệ lụy nên Đau khổ vì Hành là do năng lực Nghiệp hay là động tác phản ứng vô thủy vô chung. Diệu đế II cho ta nguyên nhân đau khổ Hành, Thức… Lão tử Diệu đế III cho ta cách diệt Khổ. Khổ là Nghiệp báo, luân hồi. Diệt khổ là Đạo đế Niết bàn. Luân hồi và Niết bàn là hai phương diện của một Thực tại tuyệt đối nhìn ở quan điểm thế gian tương đối. Luân hồi samsara và Niết bàn Nirvana hỗ hệ cùng có, cùng mất bởi vì Tuyệt đối biểu hiện là Tương đối và hành động như sợi giây liên hệ khiến chúng có điều lý và nghĩa lý. Công thức nhân quả là cái này hiện ra liền có cái kia vì lệ thuộc vào Nhân nên Quả phải hiện. Như thế mỗi đối tượng của ý nghĩ tất nhiên là tương đối. Và vì tương đối nên không thật một cách tuyệt đối. Tất cả hiện tượng đều lệ thuộc hai cực đoan Có và Không, đấy là Maya Ảo hóa. Cho nên thực tại tuyệt đối thì ở trên cả Có và Không bất khả tư nghị, cho nên Phật Thích ca đã yên lặng đối với những câu hỏi của đạo sĩ Vacchagotta về có hay không của cái Ngã cái nhân và thế giới nhân duyên. Đạo sĩ hỏi Phật Kính bạch Gotama, không có tự tính hay sao? Đức Phật yên lặng. Đạo sĩ hỏi B ạch Ngài, có tự tính hay sao? Đức Phật yên lặng. Sau khi Đạo sĩ đi khỏi, A Nan bạch với Phật Sao Thầy không trả lời câu hỏi của Đạo sĩ hành khất Vacchagotta? Phật đáp Này A Nan nếu trả lời câu hỏi của Đạo sĩ hành khất “Có một tự tính self?” Ta đáp y “Có một tự tính!”, bấy giờ Ta sẽ cùng phe với hạng ẩn sĩ và Bà la môn chủ trương thuyết hằng cửu e1terinahsme. Nếu đối với câu hỏi “Không có một tự tính sao?” Ta đáp y là “không có!” bấy giờ ta sẽ cùng với hạng ẩn sĩ và Bà la môn chủ trương thuyết hư vô minh nihilism. Này A Nan, nếu ta trả lời câu hỏi của Đạo sĩ hành khất “Có tự tính không?” rằng “Có!” như thế có hợp sự biết mọi vật đều vô thường không? Hẳn là không, A Nan thưa. Lại nữa, khi Đạo sĩ hành khất hỏi “phải chăng không có tự tính?” Ta đã trả lời rằng “không là như thế sẽ làm cho Đạo sĩ đang bối rối càng bối rối hơn, vì y sẽ bảo “Trước kia, thật ta đã có một tự tính, nhưng bây giờ ta lại không có nữa!” – Tập A Hàm “Samytla Nykàya” IV. Đấy là đức Phật tránh thái độ giáo điều của các lý thuyết về thực tại để trung thành với thái độ của Ngài là một sự phê phán thực nghiệm để vượt lên trên bình diện tương đối của thế giới hiện tượng nhân duyên khởi. Lại như khi Đạo sĩ hành khất hỏi Nhưng Gotama có một lý thuyết nào riêng không? Ngài đáp Này Vacchagotta, Như lai đứng ngoài tất cả lý thuyết. Nhưng này Vaccha, Như lai biết “Bản tính của hình tướng và hình tướng nổi lên và biến đi thế nào… Bởi vậy nên Như lai đã đạt giải thoát và ở ngoài hệ lụy nhất là về những tưởng tượng hay là những giao động hay là những quan niệm sai lầm có liên quan đến một cái Ngã hay là bất cứ cái gì thuộc về một cái Ngã đều tan biến, đã bị tiêu diệt, đã hết, đã bị trừ bỏ” Majj. Trung A. Hàm kinh. Đức Phật không lý thuyết về hình danh sắc tướng mà biết sắc tướng là sắc tướng, lý thuyết và lý thuyết. Ngài thấy nguyên lai của nó, kiến tính nó là đau khổ và con đường để giải thoát khỏi hình danh, sắc tướng cũng như Ngài biết tất cả yếu tố cấu tạo ra cái giả ngã, ảo tình và biết như thế là tự ý thức về nó và do đấy mà giải thoát khỏi nó. Khi ta dùng lý trí về suy luận theo cách giáo điều đề lập thuyết này, thuyết khác, ta không ý thức về tính chất của nó, nó tác động thế nào. Nhưng khi nào ta phê phán để tìm hiểu cơ cấu của lý trí, ta biết lý trí hoạt động trong vòng Có, Không, Phải, Trái, nghĩa là trong lưỡng luận bội phản antinomies, bấy giờ ta thấy lý trí không thể đạt tới cái gì không lệ thuộc, không nhân duyên để tìm vượt lên bình diện trên Lý trí. Do đó mà Phật bài bác lý thuyết như là bệnh hoạn trên kia ; ngụ ý tất nhiên là thái độ phê phán lý thuyết tự nó không phải là lý thuyết hay quan điểm. Đấy là lý do sự im lặng của Đức Phật tiên phong cho cái biện chứng toàn diện “Không” hay cái đạo Trung quân, bởi vì thái độ Trung đạo của đức Phật không phải dung hòa các quan điểm mà vượt lên bình diện “không quan điểm”. Sách “Truyền đăng lục” Việt nam phổ thông lưu truyền sự tích các Tổ Thiền tông, thấy ghi về nguồn gốc thiền như sau Lời Thiền sư Thông Biện năm 1134 thời nhà Lý tâu với Hoàng Thái Hậu Cảm Linh Nhân Dịch nghĩa “Phật là biết giác ngộ vậy. Cái biết giác ngộ ấy vốn bản lai thâm thúy, thường còn bất biến. Hết thẩy chúng sinh đều cùng cái nguyên lý ấy. Song vì tình dục che lấp nên tùy theo nghiệp mà trôi nổi chuyển thành các xu hướng. Đức Phật động lòng từ bi cho nên giáng sinh xuống cõi đất Thiên trúc, vì là điểm chính giữa của Trời, Đất vậy. Mười chín tuổi xuất gia, ba mươi thành đạo, ở lại thế gian thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, mở ra các loại quyền pháp phương tiện khiến cho người ta giác ngộ đạo lý. Đấy là một thời đại tôn giáo hưng thịnh vậy. Khi Ngài sắp nhập Niết bàn, lo sợ người đời ngu mê ngưng trệ, có gọi Văn Thù mà bảo rằng “Suốt bốn mươi chín năm Ta chưa từng thuyết lý một chữ, sắp sửa bảo Ta có thuyết lý chăng?” Nhân lúc ấy cầm cánh hoa giơ lên. Đại chúng hoang mang chỉ có một mình Ca Diếp Kassiapa nở mặt mỉm cười. Đức Phật biết ông ta đã thông hiểu, bèn lấy tôn chỉ Chính Pháp nhãn tạng giao phó cho. Thế là Tổ Thiền tông thứ nhất. Thế gọi là truyền giáo riêng ngoài giáo lý của dòng tâm tông vậy.” – Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục Đoạn văn dẫn trên đây của một thiền sư Việt nam đủ chứng minh tôn chỉ Thiền “giáo ngoại biệt truyền chi tâm tông” là giai đoạn thúc kết tự nhiên từ thái độ yên lặng của đức Phật qua biện chứng Trung quân để đi đến thực nghiệm ý thức Không hư Sunyata tức là Thiền vậy. Murti viết trong The Central philosophy of Buddhism – London 1955 “Đức Phật tuyên bố Sắc rupa Thụ vedana… đều huyền ảo, chỉ là bọt nổi Trong Trung A hàm Majjhima Nikaya có nhận định “Nương tựa vào đầu và bấc mà ngọn đèn cháy, nó vừa chẳng phải ở tại cái này hay ở tại cái kia, hay là ở tại cái gì nối chính nó, hiện tượng như thế tự chúng chẳng là cái gì hết. Tất cả tạo vật đều không có thật, chúng đều là những ảo vọng, chỉ có Niết bàn là thật.” Nagarjuna Long Thọ căn cứ vào văn kiện ấy khi ông nói “Khí đức Thế tôn tuyên bố rằng nó là ảo vọng và huyền tưởng, Ngài ngụ ý không hư Sunyata – sự vật nhân duyên khởi”… Lập trường của Trung quán Madhyamika đã được chứng minh ở một số kinh văn trừ danh. Đức Phật dạy chúng ta rằng có hai quan điểm chính là sinh tồn và không có sinh tồn. Không một ai chấp vào một trong hai quan điểm ấy có thể hy vọng thoát khỏi gọng kìm của sống chết luân hồi samsara. vọng thoát khỏi gọng kìm của sống chết luân hồi samsara. – Majj. N. I – Udana – Jtivuttaka. Kaccàyana muốn biết tính chất của chính kiến sammaditthi và Thế tôn bảo ông ta rằng thế giới quen thói tin cậy vào lưỡng tính, vào “Nó có” atthitam và “ Nó không có” natthitam, nhưng đối với ai tri giác dùng sự thật và chân lý, như thế nào sự vật thế giới hiện lên và biến đi, đối với người ấy thì không còn “Có” và “Không có”. “Cho rằng sự vật có” là một cực đoan khác. Không thừa nhận hai cực đoan, đấng Thế tôn tuyên bố chân lý pháp, dharma là Trung đạo, Nagarjuna căn cứ vào đoạn kinh văn ấy trong Karikas của ông để tuyên bố rằng Thế tôn đã từ chối cả quan điểm Có và Không nghĩa là tất cả quan điểm.” sách dẫn trên của Murti tr. 50. 51 Vạn Hạnh chắc cũng muốn tìm vượt lên trên quan điểm Có, Không, và cuối cùng ông đã thành tựu như Thiền sư dặn lại đệ tử khi lâm chung “Các con đòi đi đến đâu? Ta không lấy chỗ trụ để trụ, không nương tựa vào chỗ không trụ để trụ!” Như thế là vì Vạn Hạnh đã sớm từ Phật giáo nguyên thủy và Tiểu thừa có khuynh hướng tiêu cực giáo điều của Tam học để đi sang triết lý phê phán của Bách luận. Trung quán Đại thừa tích cực và xã hội. Hoàn cảnh văn hóa chính trị Việt nam thời bấy giờ nào Ngô Quyền thắng quân Nam hán ở trận Bạch đằng, lập căn bản khôi phục quốc thống, nào Đinh Tiên Hoàng thống nhất thập nhị sứ quân, phong trào cách mệnh giải phóng dân tộc đang bồng bột, làm thế nào mà Vạn Hạnh có thể theo dòng Vô Ngôn Thông có thái độ Phật giáo Thiền tiêu cực vô vi được. Huống chi, trong giới Phật giáo đương thời nhất là dòng Tì Ni Đa Lưu Chi, đa số thiền sư đều nhiệt tâm về thời thế như Định Không 808. La Quý An 934 chẳng đã tỏ lòng mong mỏi “minh vương”. “La Quý An thường đúc 6 pho tượng Lục tổ bằng vàng, dặn lại học trò “Nếu gặp minh vương thì cho xuất hiện, gặp âm chúa thì cất giấu đi”. – Thiền uyển truyền đăng tập lục. Hay là khi thầy Thiền đệ tử Đinh Hướng sắp tịch, bảo La Quý An rằng - Ngày xưa thầy ta là Định Không thường dặn ta ; Con giữ đạo pháp của thầy, gặp người họ Đinh thì sẽ truyền idem. Lại như “Pháp Thuận thiền sư… học rộng, có tài vương tá hiểu biết rõ việc đời.” Cả đến Khuông Việt Đại sư 938-1012 từng tham gia vào công cuộc khai quốc buổi đầu dân tộc giải phóng. Tất cả những sự kiện trên tạm chứng minh cái khuynh hướng tinh thần của thời đại đã lôi cuốn tất cả giới trí thức nhà chùa là lò đào tạo duy nhất. Bởi thế nên Vạn Hạnh không thể không đi vào triết học Đại thừa để thành Bồ tát mà tế độ đồng bào, tham gia vào công việc chính trị giải phóng dân tộc. Vì Đại thừa về phương diện tôn giáo có một căn bản triết lý đặc biệt khác với tông phái trước kia về ba điểm Quan điểm về Bản ngã siêu nhiên của đức Phật lokattara như là bản thể của hiện tượng. Lý tưởng Bồ tát Bodhisattva về tế độ cho tất cả chúng sinh chống với sự tế độ riêng và vị kỷ chính mình của Thanh văn Thừa và đạt đến Phật cảnh viên mãn thay vì cảnh A la hán. Siêu hình học của Không Hư sunyata tuyệt đối thay vì một đa nguyên triệt để của những yếu tố cùng tột. Trung quán luận là một hình thức hệ thống hóa về thuyết không sunyata của Bá Nhã ba la mật bộ Prajnaparamita. Hai vị Bồ tát có công sáng lập nhất của hệ thống triết học vĩ đại của Đại thừa này là Nagarjuna 150s. và Araya Deva 180-200 mà Hán văn dịch là Long Thọ và Thánh Thiên. Thánh Thiên là cao đệ của Long Thọ, đã thừa kế truyền thống của Thầy nhờ thế mà Tam luận tông được truyền bá. Chính Thánh Thiên là tác giả bộ Bách luận satasatra, một trong Tam luận mà Vạn Hạnh đã nghiên cứu trước khi xuất gia, vào dòng Thiền của Tì Ni Đa Lưu Chi vậy. “Bách luận” là bước đầu của biện chứng toàn diện Chân Không, gồm có 7 phá phẩm là Phả chủ thuyết thế giới còn mãi. Phá chủ thuyết có cái Ngã cá nhân biệt lập. Phá chủ thuyết thời gian khoảnh khắc có thật. Phá tất cả quan điểm tri thức. Phá cảnh, không có sự vật đối tượng của ý thức tri giác có thật độc lập khách quan. Phá chấp vào lưỡng tính tương đối có, không. Phá hình tướng nhân duyên, có thì chỉ có thật tương đối thôi, tự chúng không có thật độc lập. “Theo Thánh Thiên Arya Deva thì thế giới, ví như ngọn lửa truyền trên cành cải, chỉ là một trò quỷ thuật, ảo hóa, một mộng huyễn, một phản ảnh, một âm vang, một bóng mây, bóng trăng đáy nước Thủy nguyệt. Nhưng Thánh Thiên cũng chủ trương thực tại phác nghiệm của tất cả hiện tượng. Ngài nói “vị kỷ còn hơn là hư vô. Học thuyết của chúng ta không phải hư vô.” Sự Thực Vô ngã là vượt lên trên cái Ngã phác nghiệm tương đối. Thực tại là Tự Ngã thuần túy Cita. Ở tại bản tính của nó thì nó vượt lên trên biện biệt. tuyệt đối thuần túy, bất nhiễm và tự mình. Vì vô minh nên nó hiện ra là trí thức in-tellect cũng như đóa hoa trắng hiện ra có màu vì có một vật có màu để bên cạnh nó. Viên ngọc Tự Ngã, hiện ra bị nhơ bùn của vô minh. Một người hiền tức khắc phải nỗ lực thành trừ nhơ bùn ấy đi hơn là để cho nhơ bùn thêm. Vô minh là sai lầm, cũng vì như khỉ biết là sà cừ thì trai bạc biến mật, khi biết là cái thừng thì cái thừng – rắn biến di. Cũng biến như thế mà khí trí tuệ mở ra thì vô minh tan biến vậy.” – Indian Phylosophy – Chamdradhar Sharma cd. Burner noble Vạn Hạnh nghiên cứu Bách luận của Thánh Thiên Arya Deya tức là mới nghiên cứu biện chứng phá chấp “Bát bất” của Long Thọ Nagarjuna, theo đấy thì ngoại vật khách thể và tâm chủ thể, vật chất, vận động, nhân quả, không gian, thời gian, phẩm tính, liên hệ, chất thể, linh hồn, thượng đế, tôn giáo, đạo đức, luân lý, Tứ diệu đế, Niết bàn và Thích ca đều là những thần cách hóa. Nhưng ở quan điểm kinh nghiệm thì chúng hầu như có thật mặc dầu cuối cùng đều tan chìm vào Tuyệt đối. Đấy là kết quả biện chứng phá chấp của Thánh Thiên Arya Deva ở Bách luận, cũng như của Long Thọ Nagarjuna ở Madhyamika Karika Tam luận tông. Biện chứng pháp là một vận động tinh thần tự giác, ắt là một sự phê phán lý trí trong công việc tìm biết Thật tại tối cao. Không thể có sự phê phán lý trí nếu người ta không ý thức về sự mâu thuẫn của chính đề these và phản về antithese hay là hai quan điểm trái nghịch để giải thích cùng một sự kiện. Hai quan điểm trái nghịch mâu thuẫn không phải là biện chứng pháp vì đấy mới chỉ là một mệnh đề tạm thời có quan hệ đến một tình thế đặc biệt mà thôi. Biện chứng pháp là cả một vận động mâu thuẫn của toàn thể thế giới “ La dialectique est le movement de I’être”, “Biện chứng pháp là vận động của hữu thể”. Trong thường thức và trí thức khoa học thì không có sự mâu thuẫn ấy, tuy người ta dùng hai hay nhiều quan niệm chống đối để giải thích sự vật, có vật được coi như chớp nhoáng nhất thời, có vật coi như bất biến, tồn tại. Người ta ứng dụng cách thức phát triển hữu cơ ở khoa sinh lý và nhân văn, cách thức cơ giới ở khoa vật lý, vậy mà cả hai cách thức không được ứng dụng để giải thích một loại sự kiện hay là không một cách nào được dùng như cách thức phổ quát. Nhưng ở triết học thì khác. Triết học lựa lấy một hình thức kiểu mẫu nào trong nhiều sự kiện đem phóng đại nó ra , rồi phổ quát nó đến kiểu mẫu hay khái niệm được lựa chọn và phổ quá hóa như thế trở nên một Ý niệm của Lý trí vì ở kinh nghiệm thì không có sự gì phổ quát cả, có chăng chỉ là tương tự thôi. Chúng ta không phải bắt buộc lựa chọn một quan điểm đặc biệt nào nếu chẳng phải tự mình thích riêng. Nhưng một khi đã lựa chọn rồi thì ý thức hay vô ý thức chúng ta có khuynh hướng phổ quát hóa thành một nguyên tắc thẩm định giá trị, thành một tiêu chuẩn chung. Đấy là cái bệnh “vơ đũa cả nắm” “con sâu bỏ rầu nồi canh” như phương ngôn thường thức Việt hay nói. Như thế đủ tỏ mỗi hệ thống triết học là một sự thẩm định giá trị theo một tiêu chuẩn đặc biệt nào. Mỗi hệ thống triết học đều là cả một thế giới quan đầy đủ, một cái Duy – Isme. Ở khoa học thực nghiệm các giả định có thể gọi đến sự thử thách của thực nghiệm giác quan chứ như ở giả định triết học thì không có chỗ chứng minh như thế được, vì ngoài suy lý còn phải thí nghiệm chứ như triết học thì chỉ có sự suy lý trừu tượng siêu giác quan. Không có kinh nghiệm thực tế nào có thể hoàn toàn thích hợp với Ý niệm của Lý trí cả, nhưng tất cả kinh nghiệm thực tế đều thuộc về Lý trí. “Tout ce qui est rèel est rationnel, tout ce qui est rtonnel est réel” Hegel, “Tất cả cái gì có thực đều hợp lý, tất cả cái gì hợp lý đều có thực.” Đây là luận điệu của triết gia biện chứng duy lý. Bởi thế mà triết học nghiên cứu cho có hệ thống đều dẫn đến sự tự mâu thuẫn không lối thoát. Biện chứng pháp ngụ trong triết học là ý thức các tình trạng xung đột mâu thuẫn ấy ở lý trí để tìm cách giải quyết vậy. Nhưng giải quyết mâu thuẫn theo biện chứng pháp cũng khác nhau như biện chứng pháp duy tâm của Hegel bên Âu tây cận đại với biện chứng pháp Trung quán của Phật giáo Đại thừa. Biện chứng pháp của Hegel có tính cách tổng hợp các quan điểm chính đề these phản đề antithese và tổng hợp đề synthese. Nhưng quan điểm ấy rút mâu thuẫn ở sự phân tích hợp lý các khái niệm danh lý chứ không căn cứ vào thực nghiệm thành thử biện chứng pháp duy tâm hay duy vật chỉ là quá trình vận động từ khái niệm sang khái niệm, mỗi khái niệm càng thêm phong phú hơn nhưng không ra ngoài phạm vi của lý trí. Nó vắt một khái niệm cho đến hết ý nghĩa bên trong, khái niệm Có với khái niệm Không đến hết mâu thuẫn để biến thành một khái niệm mới phong phú hơn về ý nghĩa bao hàm cả Có lẫn Không. Khái niệm tổng hợp này lại là khởi điểm cho một quá trình biện chứng chính, phân, hợp khác. Cứ thế mà tất cả vận động biện chứng của Hegel chỉ là hình thức, lý tưởng vì Hegel đồng nhất tư tưởng với thực tại Réel với Rationnel. Biện chứng pháp Trung quán không tìm giải quyết mâu thuẫn của lý trí, nó vượt lên tất cả mâu thuẫn vì nó không thừa nhận tất cả quan điểm, không cho lý trí có khả năng bao hàm thông suốt Thực tại toàn diện viên dung. Thực tại siêu việt cả tư duy, lý niệm. Nó chỉ căn cứ vào sự mâu thuẫn nội tại trong mỗi quan điểm tìm biện chứng giải thoát, cho nên trên bình diện luận lý nó hoàn toàn phân tích, phủ định, Không synya. Người ta có thể nhìn một vấn đề theo bốn quan điểm khác nhau, hai quan điểm căn bản Có và Không, Khẳng định hay Phủ định và hai quan điểm phụ vừa Có vừa Không, chẳng Có chẳng Không nghĩa là khẳng định cả hai quan điểm Có, Không hay là phủ định cả, khẳng định và phủ định không thể qui về một được chúng là hai mặt của một đồng tiền hay là của một cái thuẫn, mặt trái và mặt phải đều có cả và khác nhau. Bốn cách nhìn trên có thể là cái khung để thu xếp thành loại tất cả hệ thống triết học. Cái thực tại coi như Hữu vi, nhất phiến, phổ quát và đồng nhất khắp cả là quan điểm khẳng định. Ở triết học Ấn độ đây là truyền thống Hữu ngã Atmavada coi Atman là Sat, là thực tại duy nhất. Quan điểm Phật giáo cũng như của Hume là Phủ định thực tính phổ quát tính, đồng nhất tính và coi thực tại là Asat Không Vô. Quan điểm Trung quán từ chối tất cả quan điểm. Nó dùng luận lý “phản phúc suy lý” reduction à I’absurde để chứng minh bất cứ quan một quan điểm nào cuối cùng cũng tự mâu thuẫn với nó. Bất cứ một mệnh đề nào cũng quay trở lại chống với chính mình. Biện chứng cho một chính đề nào của riêng mình. Đây là phương pháp mà Kant bên Âu tây đã dùng trong “Nhị luận bội phản” antinomie of raison như là một biện chứng nghịch lý thuyết minh. Hoặc như biện chứng của Phật giáo về khoảnh khắc tính của thực tại để phá thường trụ vô căn cứ. Nguyên lý của biện chứng pháp hay là triết học biện chứng là tinh thần phê phán không có cái gì tự tại, tất cả đều quan hệ nhân duyên khởi. Một thực kiện kinh nghiệm khi đem ra phân tích đều có cơ sở bên trong cơ cấu của nó. Nó không phải một tự tính độc lập, mà chỉ có trong quan hệ với vật khác ví dụ luận lý Nhân quả. Chúng ta phải phân biệt Nhân với Quả và đồng thời có quan hệ đồng nhất giữa Nhân và Quả. Quan hệ Nhân Quả không thể quan niệm như hoàn toàn đồng nhất hay hoàn toàn khác nhau, hay là vừa đồng nhất vừa khác biệt. Chúng ta không thể trừ bỏ phủ nhận tất cả. “Không một trong những vật ấy có thể thiết lập như có thật mà không được quan niệm hoặc như đồng nhất hay là khác biệt cái nọ với cái kia.” Long Thọ. Quan điểm thể tính cho rằng có thể có thể tính không thuộc tính hay sắc tướng. Quan điểm sắc tướng lại chủ trương không cần thể tính. Tuy nhiên không từng thấy ở đâu có thuộc tính attribute mà không có thể tính substance hay là trái lại. Long Thọ hay Thánh Thiện cùng biện luận về sự quan hệ giữa một người với sự xúc động của nó mà cho rằng chúng chẳng là gì về toàn thể hay đứng riêng biệt. Không thể chứng minh cá thể là có thật độc lập hay là cả “thể” lẫn “dụng” không có tự ngã ngoài tâm trạng hay tâm trạng ngoài tự ngã để thống nhất chúng lại. Chứng cũng chẳng là gì về toàn thể cả. Lửa không phải là Dầu, sự cháy không phải chất cháy nhưng Dầu cũng không rời được Lửa vì không có Dầu thì cũng không có Lửa. Không chất cháy thì hết sự cháy. Tóm lại Thể lệ thuộc vào Dụng và trái lại. Thể Dụng hỗ tương mà có. Mọi sự vật đều phải hiểu như thế cả, vừa Thể vừa Dụng. Chúng đã qua tương quan mà có thì chúng không có thật một cách tuyệt đối. Quan hệ hỗ tương phải là hỗ tương giữa các tác dụng khác nhau, chống đối hay trái nghịch với nhau. Nhưng coi như tương quan có nghĩa là cái nọ lệ thuộc vào cái kia thì phải đi đến có sự đồng nhất cái nọ với cái kia. Nhưng đã tương quan thì lại phải phân biệt. Như thế thì không có sự tương quan giữa những cá thể đồng nhất với nhau hay dị biệt với nhau. Vậy Nhân và Quả cũng như Thể và Dụng, chủ thể và khách vật… đều chỉ là tương đối có chứ không phải vật tự thân có. Cái gì tương đối mà có thì không thật, chỉ là chủ quan. Những phạm trù catégorie, đều là những khái niệm phương tiện mà lý trí dùng để thâu đạt thực tại bản nhiên tuyệt đối. Thực tại này không thể phạm trù hóa và biến thành tương đối. Lý trí hay trí thức đã giả tạo sự thực, không một hiện tượng của trí thức nào có thể vượt khỏi được vòng tương đối đại đồng. Đối với Trung quán thì tương quan là thiếu thể tính nội tại. Thực tại Tattva là cái gì tự nó có thực, tự tại, tự tồn. Lý trí hiểu sự vật qua sự phân biệt và quan hệ là một nguyên lý giả tạo, vì nó bóp méo sự thật, che lấp thực tại tự tính. Chỉ có Tuyệt đối là thực vì không lệ thuộc vào điều kiện bởi thế mà không có thể quan niệm Tuyệt đối như Hữu bhava hay Vô abhava hay là vừa có – Hữu vừa không – Vô được. Hữu, phi hữu câu phi Chư tông giai tịch diệt. Bách luận Nghĩa là Có, chẳng có đều sai Các tông phái tắt ngấm”. Như thế thì theo “Bách luận” là phải phá hết quan điểm tranh biện để thực nghiệm tại thân cái ý thức vượt quá tất cả quan điểm Có, Không, đạt tới bình diện trực giác Bát nhã Prajna Bát nhị pháp. Đấy chính là thái độ của Pháp Hiền sau khi nghe sư phụ Tì Ni thuyết cho biện chứng pháp phủ định Tam luận tông bèn bỏ vào núi Tiên du để tu định “thân hình như cây khô” “ vật ngã câu vọng” tâm vật, năng sở đều biến hóa đi mất. Và Vạn Hạnh, sau khi nghiên cứu xong Bách luận, bèn xuất gia theo Thiền. Ông tu luyện cho đến khi Thiền Ông tịch rồi mới chuyên tâm vào thiền định, luyện tập khoa sinh lý tâm lý thực nghiệm biến hóa khí chất. “Ông diệt hậu, nãi chuyên tập Tổng trì tam ma địa Samadhi môn dĩ vi kỷ vụ.” – Thiền uyển truyền đăng tập lục Nghĩa là Sau khi Ông mất, bèn chuyên tập Khoa Tổng trì tam ma địa tức khoa Thiền định lấy làm con đường của mình.” Phải chăng Vạn Hạnh chuyên tu Thiền ở đây là nói theo Pháp Hiền của dòng Tì Ni để đi đến tâm trạng “Vật ngã câu vong” hay là noi theo Vô Ngôn Thông ngồi quay mặt vào tường, “không nói mà thông hiểu suốt” “Vô ngôn nhĩ thông”, “Vật ngã câu vong” là trình độ ý thức trực giác tối cao của nhà tu đạo Phật, vì đạo Phật là một tôn giáo đặc biệt không lấy sự cầu nguyện thần linh, trước sau chỉ lấy tâm làm trọng tâm và cái khế cơ tâm về tôn giáo trong Phật giáo chủ yếu là ở sự tu dưỡng Thiền định. Theo Kimura Taiken trong “Tiểu Thừa Phật giáo tư tưởng luận” hay “Nguyên Thủy Phật giáo tư tưởng luận” do Thích Quảng Độ dịch ra Việt văn “A Tỳ Đạt Ma chia mục đích tu Thiền thành ba hay bốn loại, nhưng lấy bốn làm thông lệ. 1/ Đắc hiện pháp lạc trụ. 2/ Đắc thắng tri kiến 3/ Đắc phân biệt tuệ 4/ Tận chú phiền não. Thứ nhất “hiện pháp lạc trụ” có nghĩa là nhờ tu định mà thần tâm được an tĩnh. Thứ hai “thắng tri kiến” có nghĩa là được thần thông. Thứ ba “phân biệt tuệ” tức là thấy được tính, tướng của pháp như thế. Thứ tư “lậu tận” là được giải thoát tối cao. Khuông Việt tr. 503-504 Vậy Vạn Hạnh tu Thiền đến trình độ nào? theo khuynh hướng nào trong hai dòng Thiền Việt nam thời bấy giờ? Theo “Thiền uyển truyền đăng tập” ghi nhận về tiểu sử của Vạn Hạnh, chúng ta biết Ông là đệ tử của Tì Ni đời thứ XII. Và theo “Việt sử tiêu án” của Ngô Thời Sĩ thì “Vạn Hạnh có kiến thức cao siêu, thần toán “biết trước mọi việc, cũng là tay xuất sắc trong giới thiền. Nhưng mà hay xách ẩn hành quái chỉ tu luyện về đạo, tạo ra các câu sấm lưu truyền làm mê hoặc cho đời, mở mào ác nghiệp cho đời sau.”- “Việt sử tiêu án” tr. 113 bản dịch Văn hóa Á châu” – Saigon 1960 Ở “Thiền uyển” cũng viết “ Thời bấy giờ thường nói ra lời nào ắt thành lời “phù sấm” tiên tri. Vua Lê Đại Hành 981 rất kính trọng. Năm đầu niên hiệu Thái phúc tướng nhà Tống là Hầu Nhân Bảo sang xâm chiếm, đóng quân ở Cường giáp trấn Lạng sơn. Vua triệu vào hỏi về thắng bại. Sư Vạn Hạnh tâu “trong ba bảy ngày, giặc ắt phải thoái lui”, sau quả nhiên đúng. “Đến khi Vua muốn đánh Chiêm thành, triều nghị chưa quyết định, Sư xin khởi hành gấp thì không mất dịp may. Sau đi đánh quả nhiên thắng như lời tiên đoán. Thường có kẻ gian tên là Đỗ Ngàn muốn ngầm hại sư, sư biết trước việc xẩy ra, gửi cho kẻ gian bài kệ rằng Thổ, mộc, tướng. sinh Ngân dữ Kim. Vì hà mưu Ngã uẩn linh khâm? Đương thời Ngủ, Khẩu, Thu Tâm, tuyệt Chân chí vị lai bất hận tâm. Nghĩa Đất, Cây sinh ra nhau cũng như Bạc với Vàng. Vì đâu ngầm ấp ủ trong lòng làm hại ta? Lúc này lòng ta buồn hết sức. Thật đến kiếp sau không có lòng oán hận. Tên Ngân gian sợ bèn thôi. Đấy tài biết trước, xem việc đã qua cũng như thế rất nhiều.” Như vậy thì phải chăng Vạn Hạnh đã nhờ công phu tu luyện Thiền định đến trình độ thần thông nghĩa là đến cấp thiền định thứ II “ Đắc thắng tri kiến” như nói ở A tỳ Đạt ma trên kia? Rồi từ đấy Sư không vào rừng núi như Pháp Hiền hay ngồi nhìn vách như Vô Ngôn Thông, mà đem tài thần thông để đào luyện vua Lý Thái Tổ bấy giờ là còn là Lý Công Uẩn trở nên một vị vua khai sáng quốc gia. Và Thiền sư Vạn Hạnh đã ứng dụng cái tài “thắng tri kiến” để tạo thời thế bằng những lời sấm tiên tri ngõ hầu ảnh hưởng vào tâm lý xã hội đương thời. Như vậy thì tinh thần Thiền Vạn Hạnh không phải cầu giải thoát cho mình, cũng không phải lãnh đạm với xã hội để hướng ra thiên nhiên để sống ưu du. Thiền của Vạn Hạnh là thiền hành động thực tế phụng sự dân tộc, “không phải như bọn ngoại đạo bảo mắt không nhìn sắc, tai không nghe tiếng, mà vẫn cứ nhìn, vẫn cứ nghe nhưng nhìn nghe đúng như thực, nghĩa là không ham đắm, không chấp trước, không để mình bị kẹt cứng trong cái mình thấy, nghe hay biết, mà luôn luôn nhìn nghe với tinh thần nghìn nghe tuyệt đối ; đó mới là chỗ cực trì của Thiền. Thần thông cũng ở đó mà ra. Mà ý nghĩa tu thiền chân chính cũng ở đó. Bởi thế, nếu nói một cách cùng cực thì Thiền chân chính không phải chỉ khi nào ngồi xếp bằng ngay ngắn trong rừng sâu núi thẩm, hoặc giữa đồng không hoang vắng mà tư duy mới là Thiền, mà ngay trong đời sống hàng ngày, có thể nói nhất cử nhất động đi, đứng, nằm , ngồi, tất cả không xa rời Thiền. Nội tâm định chi thiền. Rồng Phật đi, đứng, đều định ; ngồi định, nằm cũng định, không lúc nào Rồng Phật không định nó là pháp thường của Rồng Phật. – Theo Kimura Taiken – sách dẫn trên. Bởi cái tinh thần dân tộc của Vạn Hạnh, hành động với tâm vô tư, luôn luôn “ ưu thời mẫn thế” lúc nào cũng thắc mắc lo lắng đến thời thịnh trị “ an cư lạc nghiệp” của nhân dân, nên mới tha thiết nói với Lý Công Uẩn “Gần đây, tôi thấy lời sấm lạ, biết rằng nhà Lê tất phải mất, mà nhà Lý tất phải lên. Họ Lý không ai nhân trì, khoan dung như ông, lại được lòng dân. Tôi đã hơn 70 tuổi, chỉ ân hận không kịp thấy đời thịnh trị mà thôi.”” – Việt sử lược II Như thế thì chúng ta có thể đoán biết rằng những lời sấm reo rắc trong dân gian cùng các điềm lạ báo trước ngày “Thành Chúa” xuất hiện chẳng phải kỳ tích gì mà là do Thiền sư Vạn Hạnh thần thông biết trước mà sáng tạo ra để sửa soạn tâm lý quần chúng cũng như ngày nay người ta rắc truyền đơn vậy. Không chỉ tâm lý xã hội các giới ở Việt nam, thời bấy giờ, sau hơn một ngàn năm chịu ảnh hưởng Nho học nhất là Nho học thời Hán phát triển cái học sấm vĩ ở kinh Dịch căn cứ nào nguyên lý siêu hình để hợp nhất nhân sinh với thiên nhiên, “Thiên Nhân hợp nhất” cho nên nhân thân là một tiểu vũ trụ, tất cả trong trời đất đều tương quan với nhau, người ta có cái tâm chí thành cũng như thần linh mà biết trước các việc sắp xảy ra “Thần tri lai, tri tàng vãng.” Bởi vậy “chí thành chi đạo khả dĩ tiền tri, quốc gia tương hưng tất hữu trinh tường, quốc gia tương vong tất hữu yêu nghiệt, kiến hồ thì quy, động hồ tứ thể, họa phúc tương chi, thiện tất tiên tri chi, bất thiện tất tiên tri chi, cố chi thành như thần” Trung Dung. Nghĩa là “Đạo chí thành thì có thể biết trước, nước sắp thịnh vượng ắt phải có điềm lành, nước sắp nguy vong ắt phải có điềm gở, hiện ra ở cỏ thi và mai rùa là dụng cụ bói toán xúc động đến chân tay ; họa phúc sắp đến điềm lành ắt biết trước được, điềm không tốt ắt biết trước được. Cho nên chí thành như thần linh vậy.” Cái tâm chí thành phù hợp với cái tâm Thiền đến trình độ không còn phân biệt đối tượng và tư lự, tâm chỉ tập vào một điểm duy nhất cetasa ekodibhava” Kimura Taiken – sách dẫn trên. Chính đây là ý nghĩa triết tự của chữ Thành gồm là lý trí, là ý chí và tình cảm ba tác dụng trí, tình, ý hợp nhất vào làm một điểm. Cái điểm ấy là ý thức “dung tam tế” như Lý Nhân Tông đã hiểu tinh thần Vạn Hạnh Vạn Hạnh dung tam tế, Chân phù cổ sấm cơ Hường quan danh Cổ pháp Trụ tích trấn vương kỳ. Vạn Hạnh thông quá khứ, hiện tại, vị lai ba cỏi, Chân thật phù hợp với lời sấm cơ xưa Quê hương có tên là Cổ pháp Chống gậy nhà Phật để bảo vệ đất nước. Vũ trụ là một dòng trôi chảy không dừng của hiện tượng sự vật, nhưng nền móng ở bên trong thì bất biến, bất dịch, luôn luôn hiện tại ví như lòng sông dưới làn nước chảy. Nền móng bản thể của sự vật như thế không có thời gian, đấy là điểm vô thời gian tâm linh, luôn luôn hiện tại ở cái nguồn “vạn vật đồng nhất thể” “Tatt tvam asi” trong tư tưởng truyền thống Đông phương. Biết về sự việc xảy ra lúc này không xác định được sự kiện. Điều người ta gọi là tiên tri của Thần linh thực ra là một sự hiểu biết không thời gian của chính lúc này nó phù hợp với sự tự do của ý chí nhân loại trong thời gian. Thế giới biểu hiện và tất cả cái gì vận động theo cách nào đều có nguyên nhân, thứ tự và hình thức của chúng ở tại nền móng bản thể bền vững tâm linh. Định mệnh hay Thiên mệnh là chính lý tinh thần nó xếp đặt tất cả. Nhưng vận mệnh hay số mệnh là một trật tự xếp đặt bản nhiên của sự vật vô thường biến hóa. Nhờ sự xếp đặt trật tự ấy mà Thiên mệnh liên hệ tất cả sự vật thành điều lý trật tự thích đáng tức là Đạo vậy. Đạo trời, Đạo đất, Đạo người. Bởi vì Thiên mệnh cũng bao hàm toàn thể tất cả sự vật dù là phức tạp khác nhau, thiên hình vạn trạng vô cùng. Nhưng số vận làm cho sự vật vận động tùy theo vị trí hình thức và thời gian. Thành thử sự diễn tiến theo thứ tự thời gian hợp nhất sự định trước của Thần linh hay là Thiên mệnh. Và chính sự hợp nhất ấy tiến hóa và phô diễn biểu hiện ra thời gian thì gọi là số vận hay Thời vận. Sự tiên tri không có chi là huyền bí hay hoang đường cả. Nếu một cá nhân có thể biết trước một sự việc sắp xảy ra, thì làm sao một ý thức vô lượng vô biên và biên như ý thức vũ trụ, Thiên địa chí tâm Dịch Kinh ý thức Tam muội Samadhi lại không biết trước việc tương lai rất xa được? Cái Ý thức vũ trụ ấy ở Ấn độ giáo cũng có nghĩa là “chit” hay “Ý thức, Thức. Người ta hoài nghi về cái hiện tại vĩnh cửu Eternel present cho rằng một trật tự trong thời gian không thể cùng có với một trật tự ngoài thời gian và một vật biến đổi không lẫn lộn với một vật bất biến như nói “Dịch nhi bất dịch”, sự hoài nghi ấy chỉ có giá trị đối với trật tự vận hành có tính cách cơ giới của sự vật vật chất của không gian. Nhưng cái Hiện tại vĩnh cửu của nhà tu Thiền, tâm linh học Mystique ngụ ý rằng “Lúc này tôi vĩnh cửu, lúc khác tôi ở tại thời gian.” A un moment, je snis eternal à un autre moment je suis dans le temps. Điều này là căn cứ vào tín ngưỡng truyền thống vào cái tối linh tính của nhân loại khiến cho Thực tại tối cao là Phật tính, là Thiên mệnh đồng nhất với linh tính ở con người “Phật tức tâm”. “Thiên mệnh chi vị tính.” “Tatt tvam asi” “ Linh khâm bảo hợp Thái hòa”. Cho nên người ta ở bình diện sinh lý thì sống trong thời gian, không gian ở bình diện tâm lý nó có thể nối với Tâm linh siêu thời gian không gian. Cái tôi ở đây có khi tự đồng nhất với Phật tính, với Thiên mệnh với Linh khâm thì nó vượt thời gian đến cái ý thức “Dung tam tế” của Vạn Hạnh, không còn quá khứ hiện tại vị lai nữa. Cái tâm trạng ấy vừa vĩnh cửu vừa hiện tại đã được nhà hành động như Nguyễn Công Trứ ở Việt nam cận đại từng kinh nghiệm mà diễn tả ra lời ca Ngã kim nhật tại tọa chi địa, Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi, Ngàn muôn năm âu cũng thế ni Ai hay hát mà ai hay nghe hát? Nguyễn Công Trứ, Vịnh Nhàn Tinh thần Vạn Hạnh hành động phụng sự dân tộc qua Lê Đại Hành đến Lý Thái Tổ tuy có công mà không nhận một chức tước gì của triều đình, chứng tỏ cái tâm Thiền đến trình độ ý thức “Dung tam tế” tức là đã đạt tới cái điểm “Vĩnh cửu hiện tại” Eternel present mà hành động vô cầu, chí công vô tư, cho nên nói theo luận điệu Thiền thì Ngài đã “liễu sinh tử” như bài kệ thị tịch sau đây chứng minh Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân sinh thu hựu khô, Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. Nghĩa là Thân người chớp nhoáng có rồi không, Cây cỏ xuân tươi, héo thu đông, Theo điệu vận hành hết lo lắng, Thịnh suy ngọn cỏ hạt sương trong. Xem đấy đủ thấy tinh thần Thiền của Vạn Hạnh thuộc về bậc Nhậm vận, theo cách xếp loại phép tu Thiền định của Trung hoa “Mục ngưu đồ” sau đây Tâm người ta ví như con trâu, người tu Thiền ví như người đi chăn, qua 10 giai đoạn 1 Tâm với Ý của nhà tập Thiền còn đang đi tìm nhau, trâu dại đang lồng chạy, đấy là giai đoạn chưa chăn “Vị mục”. 2 Nhà tập Thiền ví như mục đồng đã lừa bắt được trâu, xỏ thừng vào mũi lôi đi, trâu hung hăng không theo, đấy là giai đoạn “sơ điều”. 3 Trâu đã chịu theo mục đồng, nhưng mục đồng còn phải canh chừng nắm giữ, ấy là giai đoạn “Thụ chế”. 4 Trâu bắt đầu thuần phục, không phải buộc mũi nữa., nhưng mục đồng vẫn phải coi chừng tức là giai đoạn “Hồi thủ.” 5 Trâu đã thuần thục hẳn, mục đồng đi đâu trâu theo đấy ấy là giai đoạn “Thuần phục”. 6 Trâu với mục đồng tin nhau rồi, mục đồng thong thả mặc cho trâu tiêu dao, trâu vẫn không rời mục đồng, tức là giai đoạn “Vô ngại”. 7 Mục đồng đi đâu trâu theo đi đấy, hoàn toàn ăn ý với nhau như bóng với hình, tức là giai đoạn “Nhậm vận”. 8 Mục đồng với trâu là một, cả hai đều không thể phân biệt, đây là giai đoạn “Tương vong”. 9 Chỉ còn lại một cái tâm sáng chiếu tức là giai đoạn “Độc chiếu”. 10 Tâm cảnh đã biến cả rồi chỉ còn lại Chân Như tức là giai đoạn “Song dẫn”. Trong cách xếp loại trên đây trong phép tu Thiền Trung hoa thì giai đoạn Nhậm vận của Thiền sư Vạn Hạnh thuộc về giai đoạn thứ 7, ngoại vật còn, nội tâm còn, hai đàng thuận theo hòa nhịp đồng điệu vận hành không chút trở ngại lẫn nhau. Đấy là tinh thần Nhậm vận mà Vạn Hạnh đã đạt tới trước khi nhập tịch. Đấy cũng lại là quan niệm của Trang Tử về lẽ sống chết khi Trang tử viết “ Thả phù đắc giả thời dã, thất giả thuận dã, an thời như xứ thuận, ai lạc bất năng nhập dã, thử cổ chi sơ vị huyền giải”. Nghĩa là Đắc thất lai khứ là sống chết, sinh sống là thời của ta, chết đi là thuận của ta, thời là ta tụ họp, thuận là vì ta tan đi. Trời sinh ra ta có tình cảm là huyền, là trói buộc. Mặc tình nhậm vận ấy là Trời cởi trói buộc, như thế thì cứ thuận theo đạo trời, bốn mùa xuân đi lại xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng, cớ chi mà vui buồn khi người ta đã nối được đời sống cá nhân với nguồn sống vũ trụ, sinh sinh bất tuyệt. Với cái tâm hồn ấy thì Vạn Hạnh còn thắc mắc gì về sau khi thi giải sẽ đi về đâu nữa. Cho nên hết sức thản nhiên, Ngài nói với đệ tử đang khóc thương “Các con muốn đi về đâu? Ta không trụ vào chỗ có trụ, không trụ vào chỗ không có trụ!” Đấy là “nhậm vận” “ Dung tam tế” của Thiền sư Vạn Hạnh vậy. Nhờ cái biện chứng pháp toàn diện Chân Không sunyata không chấp nhận tâm linh thực nghiệm, không duy vật, không duy tâm mà vượt lên tất cả hệ thống trí thức như thế, Vạn Hạnh mới mở đường cho ý thức hệ dân tộc hướng về Đông nam Á của tinh thần văn hóa “ Đồng quai nhi thù đồ” I’Unité dans la Derersité để xây dựng nên cơ sở dân tộc độc lập và khải phóng lâu bền, “Diên Hựu” như tên chùa Một Cột đại diện cho giấc Mộng của nhà Lý vậy. NGUYỄN ĐĂNG THỤC trích Tạp chí Tư Tưởng số 6&7, năm 1972 Ngài họ Nguyễn, tên thật và năm sanh chưa thấy tài liệu nào ghi nhận. Ngài viên tịch vào năm 1018. Về sau, khi tham khảo sách Thi văn Lý - Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, có ghi tên thật của ngài là Nguyễn Văn Hạnh, người ở châu Cổ Pháp, làng Dịch Bảng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Sơ lược tiểu sử Thiền sư Vạn Hạnh Một góc chùa Tiêu Sơn Bắc Ninh, nơi lưu dấu Thiền sư Vạn Hạnh Sau đây chỉ là phần tổng quát về cuộc đời tu hành đắc đạo của một bậc chân tu thạc đức mà nhiệm vụ đời đạo vẫn song toàn trong lịch sử Phật giáo Đại Việt thời Lý. Sư nối truyền dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thuộc thế hệ thứ 12. Sử liệu viết về ngài hiện còn rất ít ỏi, phần nhiều căn cứ vào quyển Đại Nam Thiền uyển đăng lục, tác phẩm đầu nhà Trần, được Trường Viễn Đông Bác Cổ đánh giá cao. Ngài họ Nguyễn, tên thật và năm sanh chưa thấy tài liệu nào ghi nhận. Ngài viên tịch vào năm 1018. Về sau, khi tham khảo sách Thi văn Lý - Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, có ghi tên thật của ngài là Nguyễn Văn Hạnh, người ở châu Cổ Pháp, làng Dịch Bảng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, ngài có tư chất đĩnh đạc thông minh xuất chúng, học thông Tam tạng Kinh Luật Luận, nghiên cứu tinh tường nghĩa thú của Bách luận, là căn bản của Phật giáo Đại thừa do Bồ-tát Long Thọ trước tác. Ngài cũng nghiên cứu làu thông Tam giáo Khổng, Lão, Phật rất thông dụng vào hai triều đại Lý - Trần, cũng là cơ bản xây dựng nền văn minh cường thịnh nhất thời bấy giờ. Tuy tài đức cao rộng nhưng xem thường phú quý vinh hoa. Năm 21 tuổi, ngài theo Thiền sư Định Huệ xuất gia và thọ học với Thiền Ông Đạo Giả ở chùa Lục Tổ, làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức. Khi Thiền Ông viên tịch, ngài tiếp quản nhiệm vụ trụ trì và chuyên thiền tập pháp “Tổng trì Tam ma địa”, lấy đó làm sự nghiệp đời tu. Bấy giờ ngài nói ra điều gì dân chúng đều cho là sấm ký. Vua Lê Đại Hành rất tôn kính ngài. Triết lý “Dung tam tế” của Thiền sư Vạn Hạnh Qua những nét ghi lại sau đây về tiểu sử của Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta thấy một số điểm nhấn quan trọng trong tiến trình tâm linh đã un đúc tạo nên một Thiền sư siêu việt, trong toàn cảnh của lịch sử đất nước Đại Việt đương thời. Thiền uyển tập anh chỉ đề cập một điểm nhấn là ngài chuyên tu tập pháp “Tổng trì Tam ma địa” chứ không phải là cốt lõi thực chứng. Truy tìm lại Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ta thấy có bóng dáng Mật tông ở đó, mà ngài thuộc thế hệ thứ 12 của Thiền phái này. Tam ma địa, theo Trí độ luận, còn gọi là Tam muội và Thiền cũng gọi là Tam muội. Theo người viết, đây có thể là diệu dụng nào đó của việc đạt được thực ngộ Thiền, chứ không hẳn Tam ma địa là thực thể có từ bên ngoài. Như vậy hẳn nhiên ngài chứng ngộ là nhờ khai quật nội tâm bằng phương pháp Thiền định qua cửa ngõ và phương pháp hành trì của Tam ma địa. Nhờ đó, những việc làm của ngài đã làm thay đổi hướng vận động của lịch sử dân tộc, mở ra một giai đoạn phát triển mới, để lại dấu ấn cho đời sau. Thiền sư và cách hành xử đóng góp cho đời, tự tại giữa thăng trầm Ngoài việc thực chứng thực ngộ của chính bản thân, ngài còn là một nhân vật mang ánh sáng giác ngộ đi vào cuộc đời để giúp dân xây dựng một nước Việt huy hoàng rực rỡ. Sự thông tuệ của ngài chính là việc hun đúc huấn luyện và có khả năng tiên đoán được vận mệnh trước sau trong con người mà ngài muốn nhắm đến. Ngay từ khi được sự tôn kính của vua Lê Đại Hành, ngài đã tỏ ra rất xuất sắc trong việc tiên đoán sự thắng bại của quân ta. Niên hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất 980, tướng Tống là Hầu Nhân Bảo kéo quân sang đánh nước ta, đóng binh ở Cương Giáp, Lãng Sơn. Vua Lê Đại Hành mời ngài đến hỏi - Quân ta thắng bại thế nào? Sư đáp - Trong ba, bảy ngày thì giặc ắt lui. Sau đó quả đúng như lời dự đoán. Qua những điều trưng dẫn ở trên, phải chăng khả năng tiên đoán đó là nhờ nội tâm thực chứng thông suốt quá khứ, hiện tại, vị lai? Sự tương quan giữa một tâm linh với vạn vật trong vũ trụ có sẵn trong mỗi tâm thức, nếu khơi dậy đúng mức thì sơn hà đại địa nằm trong lòng bàn tay không ở đâu xa. Con người là tiểu vũ trụ có sự quan hệ tương hợp với đại vũ trụ không phải là điều huyền ảo. Nếu khai quật những bí ẩn đang nép kín thì có thể trông thấy được thế giới rộng lớn bao la bằng con mắt trí tuệ. Khả năng của Thiền sư còn sử dụng tuyệt diệu hơn trong việc đào tạo nên một nhân vật lỗi lạc mà sau này đã trở thành một vị minh quân, một vĩ nhân của dân tộc. Ngài đã đào tạo Lý Công Uẩn ngay từ lúc còn làm chú tiểu ở chùa làng Cổ Pháp, để sau này trở thành một vị vua anh minh làm tròn sứ mạng cao cả cho dân tộc. Nhờ sự giáo dục uốn nắn tài tình của ngài, Lý Công Uẩn đã thâm nhập tinh thần từ bi trí tuệ trong đạo Phật, đặt sự tồn vong của dân tộc lên trên, xây dựng một xã hội nhân bản thịnh vượng. Học giả Hoàng Xuân Hãn viết “Triều đại nhà Lý là triều đại thuần từ nhất trong lịch sử nước ta, đó là nhờ ảnh hưởng của Phật giáo”. Điều này cũng đủ cho ta thấy rằng triều đại nhà Lý được hưng thịnh có sự đóng góp của Thiền sư Vạn Hạnh là vô cùng to lớn. Ngài đã đem khả năng của mình để phục vụ nhân dân bằng cách biến những ưu tư của họ thành lẽ sống trong một đất nước tự do an lạc, tạo được ý thức dân tộc trong sự trị vì của vua hay những người trực tiếp cai trị dân, từ đó mới đem lại sự thanh bình cho người dân, nhưng coi thường công danh phú quý, không có thảm cảnh tranh giành địa vị quyền lợi. Ngài chỉ đứng trên cương vị cố vấn tham dự vào chính sự để an dân nhưng không tham quyền cố vị. Đối với ngài, Thiền môn vẫn là nơi cư trú, cơm rau đạm bạc vẫn là thức ăn hàng ngày. Ngài đi vào cuộc đời, tham dự vào chính sự trong cương vị xuất thế của mình, nhưng lại không muốn hòa mình trong ràng buộc của lợi danh, quả là “Vô hành nhi hành, vô ngôn nhi ngôn”. Ngày Lý Công Uẩn lên ngôi vua, ngài ung dung ở chùa Lục Tổ bên cạnh chén trà trong tĩnh lặng. Cái ung dung thanh thoát của ngài thể hiện ngay cuộc sống không vướng bận buộc ràng. Vì dân tộc vì chúng sanh nên phải dấn thân nhưng không bị hoen ố bởi danh lợi dục trần. Về sau, vua Lý Nhân Tông làm bài kệ truy tán ngài rằng Vạn Hạnh dung tam tế Chơn phù cổ sấm ky Hương quan danh Cổ Pháp Trụ tích trấn vương kỳ. Tạm dịch Vạn Hạnh suốt ba mé Rất giỏi lời sấm xưa Quê hương tên Cổ Pháp Chống gậy vững kinh vua. Chính Thiền sư Vạn Hạnh đã thuyết phục vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La sau đổi là Thăng Long với mục đích bảo vệ nền độc lập lâu dài cho dân tộc. Theo Chiếu dời đô, thì đất Hoa Lư là nơi “thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, vạn vật không nên”. Trong khi đó đất Đại La thì “Ở giữa khu vực trời đất, có địa thế rồng quấn hổ phục, ở giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện hình thể núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh và phồn vinh”. Bằng vào những tiên đoán nhận định, ta thấy ngài ý thức mãnh liệt về sự hưng thịnh lâu bền của dân tộc. Ta có thể thấy được những nền tảng vững chãi từ những biểu tượng đặc trưng, thể hiện về mọi lĩnh vực văn học, chính trị, an ninh quốc phòng, thương mãi, đô thị. Đây là bài thi kệ nổi tiếng của Ngài Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. Tạm dịch Thân như ánh chớp có rồi không Cỏ xuân tươi tốt thu đượm nồng Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi Thịnh suy như cỏ giọt sương đông. Quốc sư Vạn Hạnh – Công đức đối với Đạo pháp và Dân tộc Nói kệ xong, Sư bảo chúng “Các ngươi cầu trụ chỗ nào? Ta chẳng lấy chỗ trụ mà trụ, chẳng y không trụ mà trụ”. Ngừng giây lát, Sư tịch. Qua bài kệ trên, ta thấy sự chứng nghiệm siêu việt của ngài về cuộc đời, về sự biến đổi của vạn vật trong vũ trụ, thân phận con người mong manh có đó rồi không, mọi thứ đều giả hợp vay mượn không có sự gì, vật gì độc lập mà tồn tại. Một thời khắc đi qua là dĩ vãng, sự tàn tạ đang quấy động trong lòng là thực tại. Những gì được gọi là thịnh suy trong thế giới hữu vi cũng là vô nghĩa như thân phận con người trước cửa tử sinh. Sự hưng thịnh luôn ngầm chứa bóng dáng của suy vi, bởi lẽ, đó không phải là thực thể thoát ra ngoài chi phối của thời - không. Chính với thái độ đó đã đưa đến hành xử của ngài, khi đất nước và dân tộc đã thịnh vượng, ngài đã trở về với cái ban đầu mà ngài đã đến là cái “không trụ”. Thiền sư Vạn Hạnh là hình tượng thanh thoát, không dính, luôn bình thản, là triết lý sống cho muôn đời chiêm nghiệm, hướng tới và noi theo. 1. Tiểu sử và hành trạng của thiền sư Vạn Hạnh Thiền sư Vạn Hạnh là vị cao Tăng thời Lý, nối pháp thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 12. Thiền sư họ Nguyễn, người làng Cổ Pháp. Từ thuở nhỏ thiền sư đã thông minh hơn người. Thiền sư Vạn Hạnh vốn là người tinh thông cả Nho, Lão, Phật, đã nghiên cứu hàng trăm bộ kinh luận Phật giáo. Với bản tính không màng danh lợi, năm 21 tuổi Vạn Hạnh xuất gia học đạo với thiền sư Thiền Ông ở chùa Lục Tổ. Thiền sư Vạn Hạnh là người đã dạy học cho cả vua Lê Đại Hành và Lý Thái Tổ, không những về chữ nghĩa văn chương mà còn dạy cả giáo lý Phật Đà, tinh thần nhập thế, phụng sự chúng sanh. Vạn Hạnh đã giúp đỡ rất nhiều cho vua Lê Đại Hành trong các công việc quân quốc đại sự. Khi nhận biết đế nghiệp nhà Tiền Lê đã đến hồi mạt vận, thiền sư Vạn Hạnh đã khéo léo vận động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, chấm dứt thời kì đen tối của dân tộc dưới triều vua Lê Long Đĩnh tàn ác, dâm loạn, đồng thời ngăn chặn được những biến loạn nguy hiểm có thể xảy ra khi Lê Long Đĩnh băng hà. Sau cuộc thay triều đổi đại không đổ máu ấy, thiền sư Vạn Hạnh được vua Lý Thái Tổ sắc phong làm Quốc sư. Nhân cơ hội này, thiền sư Vạn Hạnh đã đem hết tài trí, khả năng và tinh thần dung hợp Tam giáo Nho, Lão, Phật của mình để giúp vua Lý Thái Tổ trị quốc an dân đúng với vị trí của một vị lãnh đạo về mặt tinh thần và tâm linh. Với tinh thần nhập thế thiền sư đã hành động để giúp dân an cư lạc nghiệp. Bàn tay và khối óc của thiền sư Vạn Hạnh đã góp một phần không nhỏ cho việc hình thành và phát triển nhà Lý, một triều đại huy hoàng trong lịch sử dân tộc. Năm Thuận Thiên thứ 16 1025, thiền sư Vạn Hạnh viên tịch vào ngày rằm tháng 5 tại chùa Lục Tổ. 2. Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu chi với “sấm vĩ học” Thiền sư Vạn Hạnh là thế hệ thứ 12 của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Nói đến thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi không thể không nhắc đến yếu tố Mật giáo trong thiền phái này. Các yếu tố Mật giáo này đã được các vị thiền sư trong thiền phái ứng dụng để cho ra đời hình thức “sấm vĩ” như một phương tiện để truyền đạo hữu hiệu. Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi do thiền sư người Ấn Độ tên Tỳ Ni Đa Lưu Chi truyền vào nước ta năm 580. Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi là thiền phái đầu tiên du nhập vào Việt Nam và tồn tại suốt 633 năm với 19 đời truyền thừa từ thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến người cuối cùng là thiền sư Y Sơn. Từ các yếu tố Mật giáo trong tư tưởng thiền học của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đưa đến việc hình thành “sấm vĩ học”, là môn học suy trắc về tương lai, căn cứ trên lý thuyết âm dương và lý thuyết ngũ hành tương sinh tương khắc. Về việc phát triển hình thức sấm vĩ trong thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đầu tiên ta có thể nói đến thiền sư Định Không. Một hôm khi đào đất đắp nền dựng chùa Quỳnh Lâm, ông đã tìm thấy mười chiếc khánh và một cái lư hương, khi đem xuống sông rửa thì một chiếc khánh bị chìm xuống nước. Từ sự việc ấy thiền sư Định Không đã đặt tên cho chốn đất ấy là Cổ Pháp. Và xuất bài kệ “Địa trình pháp khí Nhất phẩm trinh đồng Trì Phật pháp chi hưng long Lập hương danh Cổ Pháp Pháp khí xuất hiện Thập khẩu đồng chung Lý thị hưng vương Tam phẩm thành công”. Dịch “Đất trình pháp khí Phẩm chất tinh đồng Đưa Phật pháp đến thuở hưng long Đặt tên làng là Cổ Pháp Pháp khí xuất hiện Mười chiếc chuông đồng Nhà Lý hưng vương Tam phẩm thành công”.[1] Trước khi mất thiền sư Định Không còn căn dặn Thông Thiện phải giữ gìn cuộc đất nơi Cổ Pháp. Nếu để mất thế đất ấy bậc đế vương không thể xuất hiện để định quốc và xiển dương Phật pháp. Trong các thế hệ sau có thiền sư Đinh La Quý cũng là người tinh thông sấm vĩ và phong thủy. Khi Cao Biền trấn yểm thế đất nước Nam, thiền sư La Quý đã cho người đào lên và phá đi thế yểm đó. Chính ông cũng khẳng định lại nơi đất Cố Pháp sau sẽ xuất hiện bậc đế vương để trị quốc an bang, hoằng dương chánh pháp nên ông đã quyên góp tiền vàng đúc tượng Lục Tổ bằng vàng đem chôn gần Tam quan và dặn đệ tử khi nào có minh đế xuất hiện thì đào lên mà lấy vàng ấy đem đi ủng hộ, còn khi thời cuộc u ám còn ngự trị thì phải giấu dưới đất. Việc thứ hai thiền sư Đinh La Quý làm là trồng cây gạo ở chùa Minh Châu để giữ lại thế đất nơi Cổ Pháp. Trước khi viên tịch thiền sư Đinh La Quý còn để lại bài sấm “Đại sơn long đầu khởi Xà vĩ ẩn châu minh Thập bát tử [2] định thành Miên thọ hiện long hình Thố kê thử nguyệt nội Định kiến nhật xuất thanh” Dịch “Trên núi lớn có đầu rồng xuất hiện Sau đuôi rắn có ẩn ngọc minh châu Mười tám chàng trai nhất định công thành Hình rồng hiện từ gốc cây miên mộc Trong tháng chuột, ngày gà, giờ thỏ Mặt trời lên rực rỡ trên mây xanh”. [3] Chính bài sấm của thiền sư Đinh La Quý cũng đã một phần tiên đoán sự thành công của Lý Công Uẩn căn cứ vào phong thủy và sấm vĩ. Sấm vĩ là một phương tiện để truyền bá Phật giáo. Các thiền sư trong thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã khéo léo vận dụng nghệ thuật sấm vĩ ấy trong công cuộc hoằng dương Phật pháp. Đưa Phật pháp đến gần với thế gian hơn để phát triển Phật giáorộng rãi khắp quần chúng nhân dân. 3. Người tinh thông “sấm vĩ học và phong thủy học” Thiền sư Vạn Hạnh là người kế thừa được những tinh hoa của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi về phong thủy và sấm vĩ triệt để nhất, là người đã ứng dụng nghệ thuật sấm vĩ một cách toàn diện và khéo léo, tài tình nhất. Trong những bài sấm của thiền sư Vạn Hạnh có thể kể đến lần sét đánh lên cây gạo do thiền sư Đinh La Quý trồng ở chùa Minh Châu khi xưa. Sau khi bị sét đánh cháy trên thân cây gạo hiện ra bài sấm “Thụ căn diểu diểu Mộc biểu thanh thanh Hòa đao mộc lạc Thập bát tử thành Đông A nhập địa Dị mộc tái sinh Chấn cung kiến nhật Đoài cung ẩn tinh Lục thất niên gian Thiên hạ thái bình”. Dịch “Gốc cây thăm thẳm Ngọn cây xanh xanh Cây hòa đao rụng Mười tám hạt thành Cành Đông xuống đất Cây khác lại sinh Đông mặt trời mọc Tây sao lặn mất Sáu bảy năm nữa Thiên hạ thái bình”.[4] Sách Đại Việt Sử ký toàn thư có chép về việc này như sau “nhà sư Vạn Hạnh tự đoán riêng rằng trong câu thụ căn diểu diểu, chữ căn là gốc, gốc tức là vua, chữ diểu đồng âm với yểu, thế là nhà vua chết yểu; trong câu mộc biểu thanh thanh, chữ biểu là ngọn, ngọn tức là bề tôi, chữ thanh đồng âm với chữ thịnh; hòa đao mộc là chữ Lê; thập bát tử là chữ Lý; Đông A là chữ Trần; nhập địa tức chỉ giặc phương Bắc vào cướp. câu dị mộc tái sinh tức là họ Lê khác lại nổi lên. Câu Chấn cung kiến nhật thì Chấn là phương Đông, kiến là mọc ra, nhật chỉ Thiên tử; Câu Đoài cung ẩn tinh thì Đoài là phương Tây, ẩn cũng như lặn, tinh là thứ nhân. Mấy câu ấy ý nói vua thì mệnh yểu, tôi thì cường thịnh, họ Lê mất thì họ Lý nổi lên. Thiên tử ở phương Đông mọc ra thì thứ nhân ở phương Tây lặn mất. Trải qua sáu bảy năm nữa thì thiên hạ thái bình” [5]. Về phương diện phong thủy học, thiền sư Vạn Hạnh cũng là người tinh thông. Nếu xét kĩ từ “Chiếu dời đô” có thể thấy tư duy của một võ tướng không thể đạt đến trình độ như vậy. Trong lời lẽ bất hủ ấy ắt hẳn phải có một phần tư duy của những con người thực sự am hiểu về địa lí, mà người giúp sức cho Lý Thái Tổ trong công cuộc dời đô ấy không ai khác ngoài thiền sư Vạn Hạnh. Sấm vĩ học và phong thủy học là những phương tiện để các thiền sư hoằng dương chánh pháp đem đạo lý Phật đà truyền đến cho trăm họ bách tính. Truyền đến thiền sư Vạn Hạnh, nghệ thuật sấm vĩ và phong thủy ấy đã được thiền sư sử dụng với tinh thần tùy duyên bất biến ứng dụng sấm vĩ và phongthủy một cách tài tình để đưa Lý Công Uẩn lên ngôi. Việc làm ấy có thể coi là “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Mục đích cuối cùng của thiền sư Vạn Hạnh cũng chỉ là giúp đất nước tránh một cuộc can qua, máu nhuộm sơn hà. Đưa người hiền lên ngôi đế vương để xây dựng đất nước cường thịnh và phát triển, xiển dương Phật pháp để xây dựng một xã hội theo tinh thần Phật giáo. 4. Công dạy Lý Công Uẩn Thời kì Bắc thuộc là thời kì đen tối trong lịch sử dân tộc ta. Ngoài việc thống trị hà khắc, chế độ phong kiến phương Bắc còn sử dụng các thủ đoạn tàn độc, ảnh hưởng lâu dài đến dân tộc ta. Chúng đồng hóa văn hóa của dân tộc ta. Thực hiện chính sách ngu dân để hạn chế sự học của người Việt. Vì vậy kẻ sĩ trên thiên hạ vốn đã không nhiều, giờ còn bị nhòm ngó nên khó có thể đem hiểu biết của mình mà dạy người. Vì lẽ ấy tầng lớp Tăng sĩ lúc bấy giờ, ngoài việc phải chăm lo giáo dục đạo đức còn phải đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân trong việc học chữ. Có thể nói trong thời kì ấy ngoài đời sống không thể đáp ứng nhu cầu thiết yếu của quần chúng thì mái chùa là nơi che chở hồn dân tộc. Chốn Già lam ấy là lớp học chữ trong thời gian dài tăm tối của dân tộc Việt. Trẻ em đến chùa học không phải để xuất gia cũng không phải chỉ học Phật giáo, mái chùa lúc bấy giờ là nơi dạy cả Nho, Lão, Phật và là nơi nuôi lớn tài năng của bao danh nhân đất Việt. Việc học trong chốn Già lam ấy vẫn còn “dư âm” kéo dài đến tận thời kì ta đã giành lại độc lập chủ quyền. Đại diện tiêu biểu cho hàng lớp trẻ em học tập từ trong mái chùa hồn hậu dưới sự hướng dẫn chỉ dạy của các vị thiền sư mà bước ra cuộc đời là Lý Công Uẩn. Thực sự mà nói Lý Công Uẩn đã nhận được sự giáo dục rất tốt từ Phật giáo mà người thầy trực tiếp của ông chính là thiền sư Vạn Hạnh. Trong buổi đầu giành được độc lập, các Nhà nước đầu tiên đều dùng “bạo trị” để cai trị thiên hạ. Thiền sư Vạn Hạnh với ý niệm chuyển hóa một xã hội Việt Nam từ “bạo trị” sang “đức trị”, biến một quốc gia Đại Cồ Việt đang suy vi vì chiến loạn liên tục, máu đổ khắp nơi thành một quốc gia phú cường, hưng thịnh, nhân dân ấm no hạnh phúc. Để có được việc đó, thiền sư Vạn Hạnh đã ra tay hành động một cách kiên trì và âm thầm từ trong công việc giáo dục. Để có một cuộc cách mạng thay đổi triều đại mà không đổ máu năm 1009, thiền sư Vạn Hạnh đã chuẩn bị rất nhiều tâm huyết trong hàng chục năm để trang bị cho Lý Công Uẩn một nền giáo dục toàn bích, kết hợp Phật giáo tính, dân tộc tính và thời đại tính. Đồng thời cũng mang trong nó bách khoa tính, thực dụng tính và lãnh đạo tính biến cậu bé Lý Công Uẩn thông minh khác thường thành một người tài đức vẹn toàn, một công dân gương mẫu, một vị tướng trung dũng, đồng thời cũng thấm nhuần giáo lý Phật đà để có thể trở thành một vị quân vương bồ tát, trị quốc an dân theo chánh pháp. Có thể nói công dạy Lý Công Uẩn của thiền sư Vạn Hạnh rất to lớn. Việc giáo dục nhân cách và đạo đức một con người từ thuở còn thơ, rèn văn luyện võ như vậy có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành tư tưởng của Lý Công Uẩn trong việc trị quốc sau này. 5. Phò tá Lý Công Uẩn lên ngôi và trị nước Việc giành lại độc lập chủ quyền dân tộc đến đầu thế kỷ XI đã có thể gọi là hoàn toàn. Nhà Tiền Lê với việc chống xâm lược Tống để bảo vệ độc lập dân tộc là một thiên sử vẻ vang trong lịch sử nước nhà. Có thể nói sứ mệnh lịch sử của nhà Tiền Lê đến thời Lê Long Đĩnh đã là hồi kết. Phú cường và an cư lạc nghiệp là nhu cầu thiết yếu của quốc gia dân tộc lúc bấy giờ. Để thực hiện nhu cầu ấy, Phật giáo với tinh thần nhập thế đã từng bước tiến hành công việc để đạt đến mục đích. Dưới sự chuẩn bị của thiền sư Vạn Hạnh mọi việc đã diễn tiến thuận lợi. Năm 1009 khi Lê Long Đĩnh băng hà, các thế lực Phật giáo đã tiến hành đưa Lý Công Uẩn lên ngôi. Thiền sư Vạn Hạnh từng nói với Lý Công Uẩn “Mới rồi tôi trông thấy lời phù sấm kì lạ, biết rằng họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp, nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng thân vệ là người khoan thứ nhân từ được lòng dân lại nắm binh quyền, đứng đầu muôn dân chẳng phải thân vệ thì còn ai đương nổi nữa, tôi đã hơn bảy mươi tuổi rồi, mong được thư thái hãy chết, để xem đức hóa công như thế nào, thực là cái hay nghìn năm không có một. [6] Thiền sư Vạn Hạnh lại nói với tướng Đào Cam Mộc “Thân vệ là người khoan thứ nhân từ, lòng người chịu theo, hiện nay trăm họ mỏi mệt kiệt quệ, dân không chịu nổi, thân vệ nên nhân đó lấy ân đức mà vỗ về thì người ta tất xô nhau kéo về như nước chảy chỗ thấp, có ai ngăn được”. [7] Việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi đã hoàn thành được chí nguyện xây dựng một Nhà nước có thể đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước phú cường và dân chúng được an cư lạc nghiệp. Sau khi đưa Lý Công Uẩn lên ngôi thiền sư Vạn Hạnh còn là người cố vấn cho vua trong mọi việc quân quốc đại sự, để định cuộc đất nước, đưa ra các biện pháp trị quốc thích hợp. Có thể nói xã hội đời Lý thái bình thịnh trị là do nền tảng mà thiền sư Vạn Hạnh đã âm thầm xây dựng và giúp đỡ Lý Công Uẩn thực hiện công việc ấy. 6. Thời gian cuối đời của thiền sư Vạn Hạnh Thời gian cuối đời thiền sư Vạn Hạnh lui về chốn Già lam u tịch phụng sự cho Đạo pháp. Thiền sư vẫn tiếp tục công việc giáo dục cho bao thế hệ trẻ thơ, đồng thời cũng làm cố vấn cho các việc quan trọng mà Lý Thái Tổ thỉnh ý. Năm Thuận Thiên thứ 16 1025 thiền sư không đau ốm gì mà thị tịch. Thi hài thiền sư Vạn Hạnh được triều đình và môn đồ pháp quyến trà tỳ và đặt trong tháp thờ ở chùa Tiêu Sơn. Trước khi thị tịch thiền sư Vạn Hạnh để lại bài kệ để răn dạy hàng đệ tử “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”. Dịch “Thân như bóng chớp có rồi không Cây cối xuân tươi thu não nùng Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi Kìa kìa ngọn cỏ hạt sương đông”. [8] Chính trong bài kệ thị tịch của thiền sư Vạn Hạnh đã thể hiện rõ nét tư tưởng của ông, một tư tưởng triết học Phật giáo thiền tông. Mọi sự vật, hiện tượng đều luôn biến động vô thường. Con người cũng không tránh khỏi quy luật vô thường ấy. Vì phàm phu không hiểu được quy luật vô thường ấy mà có sự sợ hãi về cuộc thịnh suy của thời vận. Là bậc tu hành chứng đắc, đạt đến cảnh giới “nhậm vận” thiền sư Vạn Hạnh đã hiểu rõ quy luật vô thường. Chính vì hiểu vậy nên thiền sư trở về với bản tính chân như vốn có của con người từ đó có thể thấy được cái “vô ngã” trong giáo lý nhà Phật. Chính vì lẽ ấy mà sự hòa nhập giữa nội tâm và ngoại giới ở thiền sư Vạn Hạnh đã đạt đến cảnh giới đỉnh cao, vượt lên mọi sự phân biệt của thế giới nhị nguyên. Sự an nhiên trở về với tự tính, trở về với lẽ chân như mà diệu hữu của đạo Phật để thấy được bản thể trong sự vận động vĩnh cửu vô thủy, vô chung. Vì vậy khi ấy con người chỉ có thể coi như ánh chớp có rồi không ngắn ngủi. Và sự thịnh suy của cuộc đời cũng mong manh nhỏ nhoi như giọt sương đọng trên đầu ngọn cỏ. Theo giáo lý thiền tông thân xác chỉ là hóa thân có mất đi cũng chỉ là kết thúc một dạng tồn tại, chứ bản thể có mất đi bao giờ mà buồn thương tiếc nuối. Và đó cũng là bài học mà thiền sư Vạn Hạnh để lại cho đời sau. 7. Nhận định về vai trò và vị trí của thiền sư Vạn Hạnh Vạn Hạnh là vị thiền sư lỗi lạc của Việt Nam thời nhà Lý. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một sự nghiệp lớn góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển đất nước. Là một người rũ bỏ danh lợi tìm đến chốn Phật môn, nhưng Vạn Hạnh không phải là người lánh đời, tìm về chốn sơn lâm mà mai danh ẩn tính. Trái lại Vạn Hạnh đã dấn thân vào cuộc đời, đem tinh thần nhập thế của Phật giáo vào cuộc đời một cách chủ động và siêu thoát. Thiền sư đã đem sự hiểu biết của mình mà giáo dục, dìu dắt kẻ có lòng, tích cực hỗ trợ cho các vị anh hùng, những bậc minh quân, anh chúa. Con đường mà thiền sư Vạn Hạnh đã bước đi là con đường hành động với trái tim vô cầu, với quyết ý đem tất cả tâm can phò trợ những người khoan dung, được lòng dân, có hoài bão làm cho dân cho nước thịnh trị. Có thể nói thiền sư Vạn Hạnh là một người đã có vai trò rất lớn trong việc hình thành nhà Lý. Thiền sư đã làm được việc thay đổi triều đại mà không đổ máu. Tuy nhiên thiền sư không phải là người ham vinh hoa, phú quý vì danh lợi mà làm việc ấy. Bởi thế với tinh thần nhập thế của bậc đại hùng, đại lực, đại từ bi, thiền sư Vạn Hạnh đã một phần nào làm nên một triều đại nhà Lý huy hoàng trong lịch sử. Để nói lên và ghi nhận vai trò của thiền sư Vạn Hạnh đối với đất nước, dân tộc, Lý Nhân Tông đã tán thán thiền sư với bài kệ rằng “Vạn Hạnh dung tam tế Ưng phù cổ sấm thi Hương quan danh Cổ Pháp Trụ tích chấn vương kì”. Dịch “Hành tung thấu triệt ba đời Ngữ ngôn phù hợp muôn lời sấm xưa Quê hương Cổ Pháp bây giờ Dựng cây tích trượng, kinh đô vững bền”.[9] TÀI LIỆU THAM KHẢO Trương Văn Chung và Nguyễn Doãn Chính đồng chủ biên 2008, Tư tưởng Việt Nam thời Lý – Trần, Nxb. Chính trị Quốc gia. Thích Mãn Giác 2003, Vạn Hạnh – kẻ đi qua cầu lịch sử, Nxb. Tôn giáo. Hoàng Xuân Hãn 1996, Lý Thường Kiệt – lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, Nxb. Hà Nội. Hội đồng biên tập 1997, Tổng tập văn học Việt Nam, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội Hà Nội. Đinh Gia Khánh chủ biên 2010, Văn học Việt Nam thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb. Giáo dục Việt Nam. Nguyễn Lang 2011, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học. Ngô Sĩ Liên 2009, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Văn hóa – Thông tin. Nguyễn Đăng Na 2004, Văn học thế kỷ X – XIV, Nxb. Khoa học Xã hội Hà Nội. Ngô Thì Sĩ 2011, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. Văn hóa – Thông tin. Lê Mạnh Thát 2005, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập II, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Lê Mạnh Thát 2009, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Mật Thể 2004, Việt Nam Phật giáo sử lược, Nxb. Tôn giáo. Ngô Đức Thọ – Nguyễn Thúy Nga dịch 2014, Thiền uyển tập anh, Nxb. Hồng Đức. Nguyễn Khắc Thuần 2004, Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, Tập II, III, Nxb. Giáo dục Việt Nam. Trần Thuận 2014, Tư tưởng Việt Nam thời Trần, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Thích Thanh Từ 2010, Đạo Phật trong mạch sống dân tộc, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Thích Thanh Từ 1992, Thiền sư Việt Nam, Nxb. Tôn giáo. Viện Triết học 1993, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội Hà Nội. Thích Nhuận Lạc [1] Nguyễn Lang 2011, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, tr 137. [2] Theo chữ Hán ghép 3 chữ “thập”, “bát”, “tử” lại sẽ thành chữ “Lý”. [3] Nguyễn Lang 2011, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, tr 139. [4]Nguyễn Lang 2011, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, tr 142. [5] Ngô Sĩ Liên 2009, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Văn hóa – thông tin, tr 155. [6] Ngô Sĩ Liên 2009, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Văn hóa – thông tin, tr 155. [7] Ngô Sĩ Liên 2009, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Văn hóa – thông tin, tr 156. [8] Nguyễn Lang 2011, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, tr 144. [9]Nguyễn Lang 2011, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, tr 144. Ngài họ Nguyễn, tên thật và năm sanh chưa thấy tài liệu nào ghi nhận. Ngài viên tịch vào năm 1018. Về sau, khi tham khảo sách Thi văn Lý – Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, có ghi tên thật của ngài là Nguyễn Văn Hạnh, người ở châu Cổ Pháp, làng Dịch Bảng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Sơ lược tiểu sử Thiền sư Vạn Hạnh Sau đây chỉ là phần tổng quát về cuộc đời tu hành đắc đạo của một bậc chân tu thạc đức mà nhiệm vụ đời đạo vẫn song toàn trong lịch sử Phật giáo Đại Việt thời Lý. Sư nối truyền dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thuộc thế hệ thứ 12. Sử liệu viết về ngài hiện còn rất ít ỏi, phần nhiều căn cứ vào quyển Đại Nam Thiền uyển đăng lục, tác phẩm đầu nhà Trần, được Trường Viễn Đông Bác Cổ đánh giá cao. Thiền sư Vạn Hạnh – nguồn internet Ngài họ Nguyễn, tên thật và năm sanh chưa thấy tài liệu nào ghi nhận. Ngài viên tịch vào năm 1018. Về sau, khi tham khảo sách Thi văn Lý – Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, có ghi tên thật của ngài là Nguyễn Văn Hạnh, người ở châu Cổ Pháp, làng Dịch Bảng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, ngài có tư chất đĩnh đạc thông minh xuất chúng, học thông Tam tạng Kinh Luật Luận, nghiên cứu tinh tường nghĩa thú của Bách luận, là căn bản của Phật giáo Đại thừa do Bồ-tát Long Thọ trước tác. Ngài cũng nghiên cứu làu thông Tam giáo Khổng, Lão, Phật rất thông dụng vào hai triều đại Lý – Trần, cũng là cơ bản xây dựng nền văn minh cường thịnh nhất thời bấy giờ. Tuy tài đức cao rộng nhưng xem thường phú quý vinh hoa. Năm 21 tuổi, ngài theo Thiền sư Định Huệ xuất gia và thọ học với Thiền Ông Đạo Giả ở chùa Lục Tổ, làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức. Khi Thiền Ông viên tịch, ngài tiếp quản nhiệm vụ trụ trì và chuyên thiền tập pháp “Tổng trì Tam ma địa”, lấy đó làm sự nghiệp đời tu. Bấy giờ ngài nói ra điều gì dân chúng đều cho là sấm ký. Vua Lê Đại Hành rất tôn kính ngài. Qua những nét ghi lại sau đây về tiểu sử của Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta thấy một số điểm nhấn quan trọng trong tiến trình tâm linh đã un đúc tạo nên một Thiền sư siêu việt, trong toàn cảnh của lịch sử đất nước Đại Việt đương thời. Thiền uyển tập anh chỉ đề cập một điểm nhấn là ngài chuyên tu tập pháp “Tổng trì Tam ma địa” chứ không phải là cốt lõi thực chứng. Truy tìm lại Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ta thấy có bóng dáng Mật tông ở đó, mà ngài thuộc thế hệ thứ 12 của Thiền phái này. Tam ma địa, theo Trí độ luận, còn gọi là Tam muội và Thiền cũng gọi là Tam muội. Theo người viết, đây có thể là diệu dụng nào đó của việc đạt được thực ngộ Thiền, chứ không hẳn Tam ma địa là thực thể có từ bên ngoài. Như vậy hẳn nhiên ngài chứng ngộ là nhờ khai quật nội tâm bằng phương pháp Thiền định qua cửa ngõ và phương pháp hành trì của Tam ma địa. Nhờ đó, những việc làm của ngài đã làm thay đổi hướng vận động của lịch sử dân tộc, mở ra một giai đoạn phát triển mới, để lại dấu ấn cho đời sau. Thiền sư và cách hành xử đóng góp cho đời, tự tại giữa thăng trầm Ngoài việc thực chứng thực ngộ của chính bản thân, ngài còn là một nhân vật mang ánh sáng giác ngộ đi vào cuộc đời để giúp dân xây dựng một nước Việt huy hoàng rực rỡ. Sự thông tuệ của ngài chính là việc hun đúc huấn luyện và có khả năng tiên đoán được vận mệnh trước sau trong con người mà ngài muốn nhắm đến. Ngay từ khi được sự tôn kính của vua Lê Đại Hành, ngài đã tỏ ra rất xuất sắc trong việc tiên đoán sự thắng bại của quân ta. Niên hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất 980, tướng Tống là Hầu Nhân Bảo kéo quân sang đánh nước ta, đóng binh ở Cương Giáp, Lãng Sơn. Vua Lê Đại Hành mời ngài đến hỏi Quân ta thắng bại thế nào? Sư đáp – Trong ba, bảy ngày thì giặc ắt lui. Sau đó quả đúng như lời dự đoán. Qua những điều trưng dẫn ở trên, phải chăng khả năng tiên đoán đó là nhờ nội tâm thực chứng thông suốt quá khứ, hiện tại, vị lai? Sự tương quan giữa một tâm linh với vạn vật trong vũ trụ có sẵn trong mỗi tâm thức, nếu khơi dậy đúng mức thì sơn hà đại địa nằm trong lòng bàn tay không ở đâu xa. Con người là tiểu vũ trụ có sự quan hệ tương hợp với đại vũ trụ không phải là điều huyền ảo. Nếu khai quật những bí ẩn đang nép kín thì có thể trông thấy được thế giới rộng lớn bao la bằng con mắt trí tuệ. Khả năng của Thiền sư còn sử dụng tuyệt diệu hơn trong việc đào tạo nên một nhân vật lỗi lạc mà sau này đã trở thành một vị minh quân, một vĩ nhân của dân tộc. Ngài đã đào tạo Lý Công Uẩn ngay từ lúc còn làm chú tiểu ở chùa làng Cổ Pháp, để sau này trở thành một vị vua anh minh làm tròn sứ mạng cao cả cho dân tộc. Nhờ sự giáo dục uốn nắn tài tình của ngài, Lý Công Uẩn đã thâm nhập tinh thần từ bi trí tuệ trong đạo Phật, đặt sự tồn vong của dân tộc lên trên, xây dựng một xã hội nhân bản thịnh vượng. Học giả Hoàng Xuân Hãn viết “Triều đại nhà Lý là triều đại thuần từ nhất trong lịch sử nước ta, đó là nhờ ảnh hưởng của Phật giáo”. Điều này cũng đủ cho ta thấy rằng triều đại nhà Lý được hưng thịnh có sự đóng góp của Thiền sư Vạn Hạnh là vô cùng to lớn. Ngài đã đem khả năng của mình để phục vụ nhân dân bằng cách biến những ưu tư của họ thành lẽ sống trong một đất nước tự do an lạc, tạo được ý thức dân tộc trong sự trị vì của vua hay những người trực tiếp cai trị dân, từ đó mới đem lại sự thanh bình cho người dân, nhưng coi thường công danh phú quý, không có thảm cảnh tranh giành địa vị quyền lợi. Ngài chỉ đứng trên cương vị cố vấn tham dự vào chính sự để an dân nhưng không tham quyền cố vị. Đối với ngài, Thiền môn vẫn là nơi cư trú, cơm rau đạm bạc vẫn là thức ăn hàng ngày. Ngài đi vào cuộc đời, tham dự vào chính sự trong cương vị xuất thế của mình, nhưng lại không muốn hòa mình trong ràng buộc của lợi danh, quả là “Vô hành nhi hành, vô ngôn nhi ngôn”. Ngày Lý Công Uẩn lên ngôi vua, ngài ung dung ở chùa Lục Tổ bên cạnh chén trà trong tĩnh lặng. Cái ung dung thanh thoát của ngài thể hiện ngay cuộc sống không vướng bận buộc ràng. Vì dân tộc vì chúng sanh nên phải dấn thân nhưng không bị hoen ố bởi danh lợi dục trần. Về sau, vua Lý Nhân Tông làm bài kệ truy tán ngài rằng Vạn Hạnh dung tam tếChơn phù cổ sấm kyHương quan danhCổ Pháp Trụ tích trấn vương dịchVạn Hạnh suốt ba méRất giỏi lời sấm xưaQuê hương tên Cổ PhápChống gậy vững kinh vua. Chính Thiền sư Vạn Hạnh đã thuyết phục vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La sau đổi là Thăng Long với mục đích bảo vệ nền độc lập lâu dài cho dân tộc. Theo Chiếu dời đô, thì đất Hoa Lư là nơi “thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, vạn vật không nên”. Trong khi đó đất Đại La thì “Ở giữa khu vực trời đất, có địa thế rồng quấn hổ phục, ở giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện hình thể núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh và phồn vinh”. Bằng vào những tiên đoán nhận định, ta thấy ngài ý thức mãnh liệt về sự hưng thịnh lâu bền của dân tộc. Ta có thể thấy được những nền tảng vững chãi từ những biểu tượng đặc trưng, thể hiện về mọi lĩnh vực văn học, chính trị, an ninh quốc phòng, thương mãi, đô thị. Đây là bài thi kệ nổi tiếng của Ngài Thân như điện ảnh hữu hoàn vôVạn mộc xuân vinh thu hựu khôNhậm vận thịnh suy vô bố úyThịnh suy như lộ thảo đầu dịchThân như ánh chớp có rồi khôngCỏ xuân tươi tốt thu đượm nồngMặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãiThịnh suy như cỏ giọt sương đông. Nói kệ xong, Sư bảo chúng “Các ngươi cầu trụ chỗ nào? Ta chẳng lấy chỗ trụ mà trụ, chẳng y không trụ mà trụ”. Ngừng giây lát, Sư tịch. Tượng thiền sư Vạn Hạnh Qua bài kệ trên, ta thấy sự chứng nghiệm siêu việt của ngài về cuộc đời, về sự biến đổi của vạn vật trong vũ trụ, thân phận con người mong manh có đó rồi không, mọi thứ đều giả hợp vay mượn không có sự gì, vật gì độc lập mà tồn tại. Một thời khắc đi qua là dĩ vãng, sự tàn tạ đang quấy động trong lòng là thực tại. Những gì được gọi là thịnh suy trong thế giới hữu vi cũng là vô nghĩa như thân phận con người trước cửa tử sinh. Sự hưng thịnh luôn ngầm chứa bóng dáng của suy vi, bởi lẽ, đó không phải là thực thể thoát ra ngoài chi phối của thời – không. Chính với thái độ đó đã đưa đến hành xử của ngài, khi đất nước và dân tộc đã thịnh vượng, ngài đã trở về với cái ban đầu mà ngài đã đến là cái “không trụ”. Thiền sư Vạn Hạnh là hình tượng thanh thoát, không dính, luôn bình thản, là triết lý sống cho muôn đời chiêm nghiệm, hướng tới và noi theo. Thích Thông Huệ What's your reaction?0Cool0Bad0Happy0Sad GN - Ngài họ Nguyễn, tên thật và năm sanh chưa thấy tài liệu nào ghi nhận. Ngài viên tịch vào năm 1018. Về sau, khi tham khảo sách Thi văn Lý - Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, có ghi tên thật của ngài là Nguyễn Văn Hạnh, người ở châu Cổ Pháp, làng Dịch Bảng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Một góc chùa Tiêu Sơn Bắc Ninh, nơi lưu dấu Thiền sư Vạn Hạnh Sơ lược tiểu sử Thiền sư Vạn Hạnh Sau đây chỉ là phần tổng quát về cuộc đời tu hành đắc đạo của một bậc chân tu thạc đức mà nhiệm vụ đời đạo vẫn song toàn trong lịch sử Phật giáo Đại Việt thời Lý. Sư nối truyền dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thuộc thế hệ thứ 12. Sử liệu viết về ngài hiện còn rất ít ỏi, phần nhiều căn cứ vào quyển Đại Nam Thiền uyển đăng lục, tác phẩm đầu nhà Trần, được Trường Viễn Đông Bác Cổ đánh giá cao. Ngài họ Nguyễn, tên thật và năm sanh chưa thấy tài liệu nào ghi nhận. Ngài viên tịch vào năm 1018. Về sau, khi tham khảo sách Thi văn Lý - Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, có ghi tên thật của ngài là Nguyễn Văn Hạnh, người ở châu Cổ Pháp, làng Dịch Bảng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, ngài có tư chất đĩnh đạc thông minh xuất chúng, học thông Tam tạng Kinh Luật Luận, nghiên cứu tinh tường nghĩa thú của Bách luận, là căn bản của Phật giáo Đại thừa do Bồ-tát Long Thọ trước tác. Ngài cũng nghiên cứu làu thông Tam giáo Khổng, Lão, Phật rất thông dụng vào hai triều đại Lý - Trần, cũng là cơ bản xây dựng nền văn minh cường thịnh nhất thời bấy giờ. Tuy tài đức cao rộng nhưng xem thường phú quý vinh hoa. Năm 21 tuổi, ngài theo Thiền sư Định Huệ xuất gia và thọ học với Thiền Ông Đạo Giả ở chùa Lục Tổ, làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức. Khi Thiền Ông viên tịch, ngài tiếp quản nhiệm vụ trụ trì và chuyên thiền tập pháp “Tổng trì Tam ma địa”, lấy đó làm sự nghiệp đời tu. Bấy giờ ngài nói ra điều gì dân chúng đều cho là sấm ký. Vua Lê Đại Hành rất tôn kính ngài. Qua những nét ghi lại sau đây về tiểu sử của Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta thấy một số điểm nhấn quan trọng trong tiến trình tâm linh đã un đúc tạo nên một Thiền sư siêu việt, trong toàn cảnh của lịch sử đất nước Đại Việt đương thời. Thiền uyển tập anh chỉ đề cập một điểm nhấn là ngài chuyên tu tập pháp “Tổng trì Tam ma địa” chứ không phải là cốt lõi thực chứng. Truy tìm lại Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ta thấy có bóng dáng Mật tông ở đó, mà ngài thuộc thế hệ thứ 12 của Thiền phái này. Tam ma địa, theo Trí độ luận, còn gọi là Tam muội và Thiền cũng gọi là Tam muội. Theo người viết, đây có thể là diệu dụng nào đó của việc đạt được thực ngộ Thiền, chứ không hẳn Tam ma địa là thực thể có từ bên ngoài. Như vậy hẳn nhiên ngài chứng ngộ là nhờ khai quật nội tâm bằng phương pháp Thiền định qua cửa ngõ và phương pháp hành trì của Tam ma địa. Nhờ đó, những việc làm của ngài đã làm thay đổi hướng vận động của lịch sử dân tộc, mở ra một giai đoạn phát triển mới, để lại dấu ấn cho đời sau. Thiền sư và cách hành xử đóng góp cho đời, tự tại giữa thăng trầm Ngoài việc thực chứng thực ngộ của chính bản thân, ngài còn là một nhân vật mang ánh sáng giác ngộ đi vào cuộc đời để giúp dân xây dựng một nước Việt huy hoàng rực rỡ. Sự thông tuệ của ngài chính là việc hun đúc huấn luyện và có khả năng tiên đoán được vận mệnh trước sau trong con người mà ngài muốn nhắm đến. Ngay từ khi được sự tôn kính của vua Lê Đại Hành, ngài đã tỏ ra rất xuất sắc trong việc tiên đoán sự thắng bại của quân ta. Niên hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất 980, tướng Tống là Hầu Nhân Bảo kéo quân sang đánh nước ta, đóng binh ở Cương Giáp, Lãng Sơn. Vua Lê Đại Hành mời ngài đến hỏi - Quân ta thắng bại thế nào? Sư đáp - Trong ba, bảy ngày thì giặc ắt lui. Sau đó quả đúng như lời dự đoán. Qua những điều trưng dẫn ở trên, phải chăng khả năng tiên đoán đó là nhờ nội tâm thực chứng thông suốt quá khứ, hiện tại, vị lai? Sự tương quan giữa một tâm linh với vạn vật trong vũ trụ có sẵn trong mỗi tâm thức, nếu khơi dậy đúng mức thì sơn hà đại địa nằm trong lòng bàn tay không ở đâu xa. Con người là tiểu vũ trụ có sự quan hệ tương hợp với đại vũ trụ không phải là điều huyền ảo. Nếu khai quật những bí ẩn đang nép kín thì có thể trông thấy được thế giới rộng lớn bao la bằng con mắt trí tuệ. Khả năng của Thiền sư còn sử dụng tuyệt diệu hơn trong việc đào tạo nên một nhân vật lỗi lạc mà sau này đã trở thành một vị minh quân, một vĩ nhân của dân tộc. Ngài đã đào tạo Lý Công Uẩn ngay từ lúc còn làm chú tiểu ở chùa làng Cổ Pháp, để sau này trở thành một vị vua anh minh làm tròn sứ mạng cao cả cho dân tộc. Nhờ sự giáo dục uốn nắn tài tình của ngài, Lý Công Uẩn đã thâm nhập tinh thần từ bi trí tuệ trong đạo Phật, đặt sự tồn vong của dân tộc lên trên, xây dựng một xã hội nhân bản thịnh vượng. Học giả Hoàng Xuân Hãn viết “Triều đại nhà Lý là triều đại thuần từ nhất trong lịch sử nước ta, đó là nhờ ảnh hưởng của Phật giáo”. Điều này cũng đủ cho ta thấy rằng triều đại nhà Lý được hưng thịnh có sự đóng góp của Thiền sư Vạn Hạnh là vô cùng to lớn. Ngài đã đem khả năng của mình để phục vụ nhân dân bằng cách biến những ưu tư của họ thành lẽ sống trong một đất nước tự do an lạc, tạo được ý thức dân tộc trong sự trị vì của vua hay những người trực tiếp cai trị dân, từ đó mới đem lại sự thanh bình cho người dân, nhưng coi thường công danh phú quý, không có thảm cảnh tranh giành địa vị quyền lợi. Ngài chỉ đứng trên cương vị cố vấn tham dự vào chính sự để an dân nhưng không tham quyền cố vị. Đối với ngài, Thiền môn vẫn là nơi cư trú, cơm rau đạm bạc vẫn là thức ăn hàng ngày. Ngài đi vào cuộc đời, tham dự vào chính sự trong cương vị xuất thế của mình, nhưng lại không muốn hòa mình trong ràng buộc của lợi danh, quả là “Vô hành nhi hành, vô ngôn nhi ngôn”. Ngày Lý Công Uẩn lên ngôi vua, ngài ung dung ở chùa Lục Tổ bên cạnh chén trà trong tĩnh lặng. Cái ung dung thanh thoát của ngài thể hiện ngay cuộc sống không vướng bận buộc ràng. Vì dân tộc vì chúng sanh nên phải dấn thân nhưng không bị hoen ố bởi danh lợi dục trần. Về sau, vua Lý Nhân Tông làm bài kệ truy tán ngài rằng Vạn Hạnh dung tam tế Chơn phù cổ sấm ky Hương quan danh Cổ Pháp Trụ tích trấn vương kỳ. Tạm dịch Vạn Hạnh suốt ba mé Rất giỏi lời sấm xưa Quê hương tên Cổ Pháp Chống gậy vững kinh vua. Chính Thiền sư Vạn Hạnh đã thuyết phục vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La sau đổi là Thăng Long với mục đích bảo vệ nền độc lập lâu dài cho dân tộc. Theo Chiếu dời đô, thì đất Hoa Lư là nơi “thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, vạn vật không nên”. Trong khi đó đất Đại La thì “Ở giữa khu vực trời đất, có địa thế rồng quấn hổ phục, ở giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện hình thể núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh và phồn vinh”. Bằng vào những tiên đoán nhận định, ta thấy ngài ý thức mãnh liệt về sự hưng thịnh lâu bền của dân tộc. Ta có thể thấy được những nền tảng vững chãi từ những biểu tượng đặc trưng, thể hiện về mọi lĩnh vực văn học, chính trị, an ninh quốc phòng, thương mãi, đô thị. Đây là bài thi kệ nổi tiếng của Ngài Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. Tạm dịch Thân như ánh chớp có rồi không Cỏ xuân tươi tốt thu đượm nồng Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi Thịnh suy như cỏ giọt sương đông. Nói kệ xong, Sư bảo chúng “Các ngươi cầu trụ chỗ nào? Ta chẳng lấy chỗ trụ mà trụ, chẳng y không trụ mà trụ”. Ngừng giây lát, Sư tịch. Qua bài kệ trên, ta thấy sự chứng nghiệm siêu việt của ngài về cuộc đời, về sự biến đổi của vạn vật trong vũ trụ, thân phận con người mong manh có đó rồi không, mọi thứ đều giả hợp vay mượn không có sự gì, vật gì độc lập mà tồn tại. Một thời khắc đi qua là dĩ vãng, sự tàn tạ đang quấy động trong lòng là thực tại. Những gì được gọi là thịnh suy trong thế giới hữu vi cũng là vô nghĩa như thân phận con người trước cửa tử sinh. Sự hưng thịnh luôn ngầm chứa bóng dáng của suy vi, bởi lẽ, đó không phải là thực thể thoát ra ngoài chi phối của thời - không. Chính với thái độ đó đã đưa đến hành xử của ngài, khi đất nước và dân tộc đã thịnh vượng, ngài đã trở về với cái ban đầu mà ngài đã đến là cái “không trụ”. Thiền sư Vạn Hạnh là hình tượng thanh thoát, không dính, luôn bình thản, là triết lý sống cho muôn đời chiêm nghiệm, hướng tới và noi theo.

tiểu sử thiền sư vạn hạnh