phúc phận vận mệnh là gì

Tổng hợp vật phẩm phong thủy cho người mệnh thổ hiện nay Cách treo chuông gió đúng và chuẩn phong thủy cho căn nhà bạn Ý nghĩa biểu tượng Dơi trong phong thủy ngày nay Số phận là cố định và không thể thay đổi, đó là điều đã định trước. Nghĩa là, khi một người sinh ra, người đó đã được định sẵn cho một số mệnh, theo nghĩa hẹp của từ này, người Trung Quốc nói về "mệnh" là "tám ký tự" (thời gian, ngày, tháng và năm của sinh viết theo Thiên Can). Đây là tin cuối cùng về cơn bão số 6. CẢNH BÁO MƯA LỚN, NGẬP ÚNG, LŨ QUÉT, SẠT LỞ ĐẤT Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và PTNT, Quốc phòng, Thông tin và Truyền thông, Giao thông vận tải; Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và Trong đó 命 - Mìng là sinh mệnh, 运 - yùn là vận động, chuyển động, vì vậy vận mệnh 命运 có nghĩa là sự chuyển đổi của sinh mệnh. - Theo quan điểm của đạo giáo, căn nguyên tai họa là ở chính ác niệm của bản thân, còn nguồn gốc của việc được hạnh phúc nằm Tại sao phải xem vận mệnh cuộc đời? Xem bói vận mệnh nói lên điều gì về bạn? Hãy để chúng tôi giúp bạn làm chủ số phận ngay hôm nay và thay đổi số mệnh một cách thông minh ; Tử vi 2022; Xem bói. Bói chứng minh thư nhân dân; Site De Rencontre Pour Mariage Halal. Trong xã hội ngày nay, không ít người theo đuổi tiền tài, tìm mọi cách để có được càng nhiều tiền càng tốt. Tuy nhiên người ta lại phát hiện ra rằng, mặc dù có người đã rất cố gắng, nỗ lực, rất phấn đấu nhưng quanh năm suốt tháng vẫn sống trong khó khăn, nghèo túng. Có người muốn làm giàu một cách nhanh chóng, thậm chí vay tiền nặng lãi để làm ăn, nhưng kết quả lại thua lỗ hết cả vốn và tiền vay. Có người vì thế mà cửa nát nhà tan, không còn thiết gì đến sinh mệnh của mình nữa. Kỳ thực người xưa đã nói về điều này rất rõ ràng rồi phúc phận của một người là kế thừa từ tổ tiên, cũng lại do bản thân bồi dưỡng mà ra. Nếu chịu khó quan sát thẳng thắn chừng vài ba thế hệ ở một gia tộc nào đó trong lịch sử hay ở quanh ta, dấu vết biểu hiện của quy luật nhân quả này rất khó tẩy xóa, phủ nhận. Tranh Họa sĩ Diêu Văn Hãn thời Thanh, Public Domain Bốn đời hành thiện, gia tộc sinh hiền sĩ Thời nhà Thanh có một vị quan tên là Đào Chú, người huyện An Hóa, tỉnh Hồ Nam, được Hoàng đế Đạo Quang triều nhà Thanh rất trọng dụng. Ông từng ở kinh thành đảm nhận chức quan Hàn Lâm Viện, sau đó được thăng lên làm Ngự sử. Về sau, ông đảm nhận chức vụ Xuyên Đông Binh bị đạo quan đặc trách chỉnh quân, Sơn Tây bố chính sử chức quan thi hành chính trị, An Huy bố chính sử, An Huy tuần phủ, Giang Tô tuần phủ… Năm Quang Đạo thứ 10, ông làm Thái tử Thiếu bảo, Lưỡng Giang tổng đốc. Trong thời gian làm quan, Đào Chú quản lý tài sản, thụ lý xử án, cứu tế dân khi có thiên tai, khai thông vận chuyển đường sông, khai mở vận chuyển đường biển, phát triển giáo dục hưng thịnh. Tính cách nghiêm khắc, chính trực và những thành tích to lớn mà ông làm được khiến người dân ai ai cũng cảm phục. Bởi vậy, trong lịch sử Trung Hoa, thanh danh của Đào Chú được xếp ngang hàng với Lâm Tắc Từ. Nếu ngược thời gian, tìm hiểu về gia tộc những đời trước của Đào Chú, người ta sẽ không thể không cảm thán rằng “Đời trước tích đức dày!” Thái Cao Tổ của Đào Chú là người sống vào thời Minh. Bấy giờ, binh vệ ở vùng quê rất nghiêm khắc. Người nào trộm cắp mà người ta bắt được thì sẽ bị xử bằng hình phạt dìm nước đến chết. Lần ấy, một tên trộm bị bắt giữ, đúng lúc thái cao tổ của Đào Chú là Hàm Công đi qua. Kẻ trộm cầu xin “Xin ân công cứu tôi, tôi nguyện sẽ không bao giờ làm kẻ ăn trộm nữa”. Hàm Công liền bỏ ra khoản tiền trả cho người ta để cứu giúp kẻ trộm. Hơn thế nữa, Hàm Công lo lắng rằng tên trộm sẽ không thể “tay làm hàm nhai” nên đã cấp cho người này một chiếc thuyền nhỏ để mưu sinh. Cả đời, Hàm Công đã bố thí cho người nghèo tám chiếc thuyền để trợ giúp họ có phương tiện làm việc kiếm sống. Hàng ngày, mỗi khi ra khỏi nhà, Hàm Công đều mang theo một chiếc giỏ nhỏ đựng những vật sắc nhọn mà ông nhặt được trên đường, để người đi đường không bị dẫm phải. Cụ của Đào Chú là Hành Công cũng là một người có đạo đức cao đẹp. Chuyện kể rằng vào một ngày trời lạnh giá, có người đã lẻn vào nhà ông để trộm gạo. Lúc ấy, Hành Công biết nên đã lần theo dấu tuyết và đi đến cửa nhà người này. Nhưng ông biết rõ người này nên thông cảm cho gia cảnh nghèo khó, lặng lẽ quay về nhà. Sự việc ấy xảy ra, ông không bao giờ nhắc tới một lần nào trong đời. 30 năm sau, vợ của ông kể chuyện này với con cháu nhưng tuyệt nhiên không nhắc đến tên của người trộm. Một lần, ở quê nhà của Đào gia bị hỏa hoạn, vợ của Hành Công đã lấy lương thực trong kho thóc của gia đình đến cứu trợ những gia đình bị nạn. Ông nội của Đào Chú là Lượng Công tính tình đạm bạc, không tham lam. Bởi vì không kinh doanh nên hoàn cảnh gia đình cũng bình thường. Một lần, ông đi đến bờ sông thì nhặt được tiền. Ông ngồi đó đợi một ngày thì thấy một người hớt hải chạy tới, mặt vàng nhợt nhạt, lo lắng tìm kiếm, hóa ra đó là số tiền người này tích lũy trong vài năm, muốn mang về phụng dưỡng mẹ già. Lượng Công đem túi tiền trả lại, khiến người này vô cùng cảm kích, muốn tặng lại cho ông nửa số tiền ấy, nhưng Lượng Công nói “Nếu tôi muốn được chia tiền thì đã không ngồi đây đợi cậu.” Nói xong, ông bèn từ biệt người kia và rời đi. Đến đời cha của Đào Chú là Đào Tất Thuyên cũng rất chú trọng đến việc hành thiện, giúp người, tích đức. Có thể nói, tổ tiên mấy đời của Đào Chú đều coi trọng làm việc thiện, cho nên, huyện An Hóa mới xuất sinh ra một Đào Chú danh tiếng lẫy lừng như vậy. Xem thêm Người thiện lương có đức dày, đi tới đâu mang phúc lành đến đó Phạm gia hưng thịnh suốt 800 năm Phạm Trọng Yêm xuất thân rất nghèo, lúc còn trẻ ông vô cùng khốn khó, cuộc sống khó khăn gian khổ. Ông nghĩ thầm rằng mai sau lớn lên nếu có thể hơn người, nhất định phải cứu tế những người nghèo khó. Sau này làm tới chức Tể Tướng, Phạm Trọng Yêm đem bổng lộc lấy ra để mua ruộng đất, cấp cho những người nghèo không có ruộng để cày cấy và trồng trọt. Ông còn cung cấp cho người nghèo cơm gạo, quần áo. Bất kể ai có việc lớn như hôn sự hay tang sự, ông còn trợ cấp tiền cho họ. Cứ như thế, ông dùng hết tiền lương bổng của mình để chu cấp cho hơn ba trăm gia đình ở quê hương. Có lần Phạm Trọng Yêm mua một ngôi nhà ở Tô Châu. Một thầy phong thủy đã ra sức khen ngợi ngôi nhà này có phong thủy thật là tốt, đời sau nhất định sẽ làm quan to. Phạm Trọng Yêm nghĩ thầm, nếu nhà này có phong thủy khiến cho đời sau vinh hiển như thế chi bằng ta đổi thành học đường thì hơn, để cho muôn dân trăm họ Tô Châu từ sau có thể vào đây mà học. Tương lai những thế hệ sau này đều có người tài đức, chẳng phải là họ cũng được hưởng phúc mà đất nước cũng càng có lợi hay sao? Vậy là ngay lập tức ông đem ngôi nhà của mình quyên góp, sửa sang thành học đường. Thực hiện điều ước ấp ủ từ lâu cho những trẻ em nghèo khổ có thể được đi học. Tục ngữ có câu “Giàu không quá ba đời”, nhưng gia tộc họ Phạm lại hưng thịnh đến 800 năm. Bốn người con của Phạm Trọng Yêm đều có tài có đức, làm tể tướng và quan lớn. Con cháu của Phạm Trọng Yêm luôn ghi nhớ gia huấn của tổ tiên là “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ và “Tích đức hành thiện”. Bởi thế mà đời sau của Phạm Trọng Yêm một mực hưng thịnh cho đến mãi những năm đầu của Trung Hoa dân quốc mà vẫn không suy. Cha phát cơm cháo cứu dân, con cháu hưởng phúc phận Trong cuốn “Thái thượng cảm ứng thiên” có ghi chép lại một câu chuyện như sau Chúc Nhiễm, người huyện Duyên Bình, Quận Sa, là người cần kiệm mà lại hay làm việc tốt việc thiện. Trong nhiều năm địa phương gặp nạn đói, ông đều nấu cơm, nấu cháo cứu tế dân chúng. Nhờ vậy mà hàng vạn người thoát được cảnh chết đói. Sau này, ông sinh được một người con trai vừa thông minh vừa hiếu học, lấy tư cách cử nhân mà vào kinh thành dự thi. Vào mùa xuân trước khi sắp công bố kết quả thi, rất nhiều người dân ở trong thôn mơ thấy có sứ giả trong cung cầm bản cáo thị Trạng nguyên, dựng thẳng bên ngoài cửa nhà Chúc gia. Trên bản cáo thị đó viết bốn chữ to “Thi chúc chi báo” Báo đáp việc phát cháo cứu tế. Đến ngày công bố kết quả, con trai ông quả nhiên đỗ Trạng nguyên. Con cháu nhiều đời trong gia đình Chúc Nhiễm đều noi gương ông cha hành thiện tích đức và sống một cuộc đời bình an, được người người tôn kính. Ba câu chuyện trên chứng minh câu nói mà cổ nhân thường dùng để giáo huấn con cháu “Gia đình tích thiện tất có phúc đức dồi dào, gia đình tích ác tất có nhiều tai ương”. Phúc phận và phúc khí của một người chính là từ thiện, từ đức mà sinh ra. Nếu có thể dành thời gian suy ngẫm và mặc khải, để tâm truy xét, người ta sẽ phát hiện ra rằng trên đời không có việc gì là vô duyên vô cớ, không có việc gì là ngẫu nhiên. Vòng xoay nhân quả, thiện ác có báo là thiên lý tồn tại khách quan, nó không thuận theo ý muốn chủ quan của con người mà hoán chuyển. Cổ ngữ nói “Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân”, ý nói đạo trời không phân biệt người thân thích, đối xử công bằng với chúng sinh, nhưng làm việc thiện hướng thiện là phù hợp với đạo trời, cho nên đạo trời đối với những người hành thiện trở thành nguồn lực trợ giúp họ, chiếu cố họ, quan tâm họ. Người xưa tin tưởng vào luật nhân quả, coi trọng nhân nghĩa mà xem thường lợi ích, khi người khác cần giúp đỡ thì giúp đỡ, dùng lòng từ bi mà đối đãi với tất cả sự vật. Kết quả họ được đền bù, phúc đức quảng đại. Theo Vision Times tiếng Trung An Hòa biên tập Xem thêm Làm người thiện lương, dù phúc chưa tới nhưng họa chắc chắn đã rời xa Mời xem video Con người sống trên đời không rời khỏi chữ “gắng”. Ở độ tuổi khác nhau thì cái cần gắng sức cũng khác nhau, nó quyết định phúc phận vận mệnh của mỗi người. Phạm Trọng Yêm được các Nho sinh các thời đại coi là lãnh tụ tinh thần, gọi ông là “Nhân vật hàng đầu trong trời đất xưa nay”. Gia tộc họ Phạm đã truyền thừa kéo dài 800 năm. Từ cuộc đời Phạm Trọng Yêm có thể rút ra một đạo lý sâu sắc “Con người sống trên đời không rời khỏi chữ “gắng”. Ở độ tuổi khác nhau thì cái cần gắng sức cũng khác nhau, nó quyết định phúc phận vận mệnh của mỗi người”. Tuổi trẻ gắng mệnh tạo nền móng cho cả đời Những nhân vật phong lưu đời Tống đại đa số đều là con em gia đình đọc sách, nhưng Phạm Trọng Yêm gia cảnh bần hàn, 2 tuổi thì cha chết. Mẹ ông đem theo ông tái giá với họ Chu ở Trường Sơn, vì thân phận có con riêng’ nên thường bị con em nhà họ Chu giễu cợt. Thế nên khi còn rất nhỏ Phạm Trọng Yêm đã quyết tâm tự lập, mà con đường duy nhất để thay đổi vận mệnh của ông chính là đọc sách. Cổ ngữ nói “Biết hổ thẹn là gần với dũng cảm rồi” nguyên văn “Tri sỉ cận hồ dũng” Đầu tiên Phạm Trọng Yêm khắc khổ học ở chùa Lễ Tuyền. Mỗi ngày ông nấu cháo bằng hai thăng gạo, đợi cháo đông kết rồi cắt làm bốn miếng, buổi sáng buổi tối mỗi buổi ăn hai miếng, kèm thêm chút rau dưa đỡ đói lòng. Khi đọc sách mệt mỏi, ông rửa mặt bằng nước lạnh. Hàng ngày canh 3 đi ngủ canh 5 dậy, buộc tóc lên xà nhà, lấy dùi đâm bắp đùi để chống buồn ngủ. Cuộc sống như thế đã xuyên suốt sự nghiệp cầu học toàn bộ tuổi thanh thiếu niên của ông. Sau này để nghiệp học tiến thêm một bước, ông đã thi vào học viện Ứng Thiên nổi tiếng đương thời. Sử sách có chép “Ông ở học xá tại Nam Đô, ngày đêm khổ học, 5 năm không cởi áo đi ngủ. Đêm mệt buồn ngủ thì lấy nước lạnh rửa mặt. Luôn luôn cháo không đủ ăn nên quá trưa mới bắt đầu ăn”. Sáng sớm múa kiếm, ban ngày đọc kinh. Tuy lúc này điều kiện học viện cũng khá tốt, nhưng Phạm Trọng Yêm vẫn tiếp tục thói quen ăn cháo qua ngày. Có bạn học đồng sông thấy ông khắc khổ cầu học, cuộc sống khó khăn nên đã tặng ông đồ ăn ngon, nhưng Phạm Trọng Yêm nhẹ nhàng khéo léo tạ từ “Tôi đã yên lòng với cuộc sống cắt cháo ăn rồi, lo rằng khi đã hưởng thụ sơn hào hải vị thì sau này sẽ không nuốt được cháo và dưa muối nữa”. Phạm Trọng Yên cắt cháo, khắc khổ cần mẫn học tập. Ảnh minh họa “Một bát cơm, một gáo nước, sống trong ngõ nhỏ tồi tàn, người ta ưu sầu không chịu nổi, Hồi vẫn không thay đổi niềm vui”. Câu nói này là Khổng Tử năm xưa đã khen Nhan Hồi, có lẽ cũng thích hợp đối với Phạm Trọng Yên. Mục đích ông đến học viện là đọc sách chứ không phải hưởng lạc. Một lần hoàng đế Chân Tông đi qua phủ Ứng Thiên, các học trò gọi nhau reo vui tung tăng đi ngắm long nhan. Có bạn học gọi Phạm Trọng Yêm, ông vẫn không động lòng, cười và nói một câu “Sau này ngắm cũng không muộn”. Sau đó lại tiếp tục vùi đầu khổ học. Sau này Phạm Trọng Yêm trở thành môn sinh của thiên tử, những bạn đồng học tìm trăm phương ngàn kế để ngắm long nhan đại đa số đều không thể tái xuất hiện trước mặt hoàng đế. Đường đi là do chân bước tạo ra, lịch sử là do con người viết ra. Mỗi bước đi của con người đều đang viết nên lịch sử của mình. Tuổi niên thiếu khí huyết hưng thịnh, không sợ hãi điều gì, chính là những năm tháng gắng mệnh. Lúc này thiên chất chúng ta không khác nhau nhiều, trải nghiệm cũng khá tương đồng, ai gắng sức càng nhiều, kiên trì càng lâu thì người đó sẽ từ bình thường biến thành siêu thường. Trung niên gắng đức là thượng phẩm làm người Đến tuổi trung niên, Phạm Trọng Yêm cuối cùng cũng vượt qua thời gian khó khăn nhất của cuộc đời, kim bảng đề danh, thân trong triều đình. Nhưng một người đứng càng cao thì phải nhìn càng xa. Phạm Trọng Yêm viết thư cho con trai rằng “Nên nhìn khí tiết lớn, không nên đàm luận ngay vẹo, vì cái danh nhỏ mà gây ra hối hận lớn”. Đến tuổi trung niên, Phạm Trọng Yêm càng coi trọng đức hạnh đối nhân xử thế, ông khuyên răn con trai cũng chính là thời thời khắc khắc cảnh tỉnh bản thân Không được vì cái lợi trước mắt mà bất chấp phẩm hạnh và tiết tháo. Một bức chân dung của Phạm Trọng Yêm từ Tam Tài Đồ Hội, 1609. Ảnh Tống Nhân Tông đăng cơ ở tuổi thiếu niên, Lưu Thái hậu nắm giữ triều chính lâu dài, trong và ngoài triều đình tiếng oán trách khắp mọi nơi, nhưng trước mặt Lưu Thái hậu lại câm như hến. Duy có Phạm Trọng Yêm trực ngôn can gián, nói ra những lợi hại. Sau đó Phạm Trọng Yêm bị giáng chức ra khỏi kinh thành. Sau khi Lưu Thái hậu qua đời, Phạm Trọng Yêm được Nhân Tông triệu hồi về kinh. Nhưng vừa trở về chưa lâu, Phạm Trọng Yêm lại bị tể tướng Lã Di Giản, người kết bè đảng mưu lợi tư, nắm giữ quyền bính bài xích. “Tự phản tỉnh bản thân mà thấy mình đúng lý đúng đạo thì ngàn vạn người ta vẫn thẳng tiến”, Phạm Trọng Yêm lại can gián, lại bị giáng chức ra khỏi kinh thành. Sau này Phạm Trọng Yêm do lập công lao trên sa trường, đánh bại quân Tây Hạ nên lại được trở về kinh thành. Hoàng đế dùng Phạm Trọng Yêm chủ trì thực hiện chính sách “Khánh Lịch tân chính”, trừ bỏ những tệ nạn cũ tích tụ đã lâu. Biết rõ rằng đây không phải là công việc dễ dàng nhưng ông bất chấp tất cả đứng ra gánh vác. Kết quả Phạm Trọng Yêm lại lần nữa chịu oan. Nhà sử học Đinh Truyền Tĩnh viết trong “Tống nhân dật sự hội biên” rằng Phạm Trọng Yêm 3 lần bị giáng chức, mỗi lần giáng chức đều được người đương thời khen là một lần vinh quang’. Lần thứ nhất khen là cực quang’ cực kỳ vinh quang, lần thứ 2 khen là dũ quang’ vinh quang hơn nữa, lần thứ 3 khen là vưu quang’ càng vinh quang hơn. Ba lần lên lại ba lần xuống, mỗi lần xuống thì thanh danh ông lại một lần lên cao. Mỗi lần lên địa vị của ông lại thêm một bậc, trở thành tấm gương cho người đọc sách, quản lý thiên hạ. Phàm kiến lập công nghiệp thì lập phẩm đức là nền tảng. Xưa nay những người có học vấn đảm đương đại nghiệp thì không ai không bắt đầu từ việc tạo lập chỗ đứng vững chắc nơi đức hạnh. Không có phẩm hạnh vĩ đại thì không có người vĩ đại. Từ một học trò nghèo bước tới địa vị tể tướng dưới một người trên vạn người, những người có bối cảnh, có tài hoa, có năng lực hơn ông thì nhiều vô kể, nhưng người có tâm hồn cao quý giống ông “lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ” thì quả là quá ít, quá hiếm. Trung niên là độ tuổi xây dựng công lao sự nghiệp, nhưng một người leo càng cao thì càng cần đức hạnh chống đỡ, mới không bị ngã thê thảm. Tuổi già gắng mệnh tạo phúc cháu con Phạm Trọng Yêm sau khi thoát ra khỏi “Khánh Lịch tân chính”, ông không còn thế lực xoay chuyển càn khôn, nhưng những năm tháng tuổi già đã đón nhận phúc vận lớn nhất của đời người. Ảnh minh họa Do sản vật phong phú, giao thông tiện lợi, từ đầu thời nhà Tống, Đặng Châu đã trở thành Thánh địa dưỡng lão cho các nguyên thần nhà Tống. Đương thời triều đình có văn bản quy định, người có ân với quốc gia hoặc quan chức 70 tuổi nghỉ hưu đều có thể đến Đặng Châu dưỡng lão, một mặt tiếp tục đóng góp tâm sức, một mặt vui vẻ sống hết tuổi Trời. Khai quốc công thần Triệu Phổ, trạng nguyên, tể tướng Tô Dị Giản, tể tướng bàn tay thép Khâu Chuẩn… đều đến Đặng Châu an hưởng tuổi già. Những năm cuối đời, Phạm Trọng Yêm cũng đến đây. Bao nhiêu năm nay Phạm Trọng Yêm đã lao tâm lao lực cho dân cho nước, ít thời gian ở với gia đình. Bắt đầu từ thời khắc này, cuối cùng ông đã có thể được hưởng niềm vui hạnh phúc gia đình rồi. Hàng ngày ngoài trồng hoa nuôi cỏ, vui cùng cháu con ra thì niềm vui lớn nhất của ông chính là giáo dục cháu con. Dưới sự giáo dục toàn tâm toàn ý của ông, 4 người con trai đều học thành tài. Con trai trưởng Phạm Thuần Hựu làm giám chủ bạ, ty trúc giám. Con trai thứ Phạm Thuần Nhân làm quan đến chức tể tướng Bắc Tống. Con trai thứ 3 Phạm Thuần Lễ làm quan thị lang bộ lễ. Con trai út Phạm Thuần Túy là thị lang bộ hộ. Hơn nữa 4 người con trai ông đều nổi tiếng trung hiếu nhân nghĩa, được ghi vào sử sách, cộng thêm bộ sách “Phạm Trọng Yêm truyện”, cả nhà 5 cha con đều được lưu danh sử sách, “Ngũ truyện” truyền đời, vẻ vang gia tộc, tiếng thơm muôn đời. Phạm Trọng Yêm viết bài thơ “Thích ngân đăng – dữ Âu Dương công tịch thương phân đề”, tuy là thơ vui đùa, nhưng đã nói thấu tỏ đời người Đêm qua nhân lúc xem Thục Chí Cười Tào Tháo Tôn Quyền Lưu Bị Dùng hết cơ mưu tâm sức phí Chỉ được tạm 3 phần thiên địa Bấm tay suy nghĩ tranh hay cùng Chỉ là Lưu Linh một giấc say Con người chẳng ai quá trăm năm Trẻ si mê về già tiều tụy Chỉ ở giữa những kẻ thiếu niên Ai nhẫn không bị hư danh buộc Quan nhất phẩm ngàn vàng cao Hỏi người tóc bạc tránh sao tuổi già Sinh mệnh mỗi người đều có kỳ hạn. Tuổi trẻ khí huyết thịnh, tinh lực vượng, nên nỗ lực gắng sức. Theo tuổi tác gia tăng, khí huyết dần suy nhược, lúc này đâu cần trăm phương ngàn kế vắt kiệt tâm sức dày vò tấm thân. Mọi người thường nói, tuổi già là lúc hưởng phúc vận, mà phúc vận này cũng là trải qua nỗ lực gắng sức mới có được. Phạm Trọng Yêm về già rời xa sự hỗn loạn phiền nhiễu chốn quan trường, trở về với gia đình hưởng niềm vui trọn tuổi Trời. Cha nhân từ con hiếu thuận, gia đình hòa thuận, không chỉ bồi dưỡng được người kế thừa đạt tiêu chuẩn mà còn đào tạo nhân tài ưu tú cho quốc gia. 800 năm sau, họ Phạm vẫn nghiêm cẩn tuân theo lời giáo huấn của Phạm Trọng Yêm, nhân tài danh nhân xuất hiện tới tấp, kéo dài mãi không ngớt. Đời người như vậy còn cầu gì hơn? Trước đền thờ Phạm Trọng Yêm có câu đối Quân cơ chứa đầy trong bụng, một đời công danh cao nhà Tống. Lo vui cùng với thiên hạ, ngàn thu thờ tế trọng Tô Đài Tuổi trẻ gắng mệnh, trung niên gắng đức, tuổi già gắng vận. Ba câu nói mà Phạm Trọng Yêm đã dốc sức toàn tâm thực hiện, không chỉ vẻ vang một đời mà còn khai sáng cơ nghiệp cho cả một gia tộc muôn đời sau. Nam Phương Theo Apollo Your browser does not support the video tag. Please upgrade to lastest version Ad will display in 09 seconds Xem thêm Vận mệnh con người có rất nhiều cách biểu hiện, bao gồm họa và phúc, trắc trở hay suôn sẻ, giàu và nghèo, cát và hung, sống thọ hay chết yểu… Tất cả đều là kết quả của báo ứng thiện ác đối với mỗi hành vi của con người. “Mệnh” là một khái niệm quan trọng trong văn hóa truyền thống. Người xưa thường rất kính Trời tín mệnh, cho rằng “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên”; “Trong mệnh chỉ được 8 phần đấu gạo thì dù có đi khắp thiên hạ cũng không đầy cả đấu”; “Đại phú dựa vào mệnh, tiểu phú dựa vào cần cù”; “Cái chúng ta có được là do may mắn, cái chúng ta mất là do mệnh”; “Một đời đều là mệnh, một chút cũng không phải do người”, Vậy nên cổ nhân cho rằng mỗi người sinh ra trên đời đều được an bài một vận mệnh khác nhau. Vậy “mệnh” rốt cuộc là gì? Trong “Mạnh Tử – Tẫn tâm thượng”, Mạnh Tử nói “Mạc chi vi nhi vi giả, thiên dã; mạc chi trí nhi chí giả, mệnh dã”. Ý tứ là Việc mình không cố ý làm nhưng lại thành công, đó là do ý Trời muốn vậy. Thứ mình không mong muốn mà tự nhiên tới, đó là do mệnh trời. Trong “Hán thư – Đổng Trọng Thư truyện”, Đổng Trọng Thư nói “Thiên lệnh chi vị mệnh” – Lệnh của Trời được gọi là mệnh. Vì vậy, mệnh và Trời có mối quan hệ với nhau, cũng gọi là “nhân mệnh quan thiên”, mệnh cũng được gọi là “Thiên mệnh”. Tức là, mệnh hoặc thiên mệnh của mỗi người đều có từ lúc nguyên sơ, mới chào đời đã có, khi sinh mang theo đến, hay cũng nói đó là do là trời chú định vậy. Trong thuật đoán mệnh truyền thống, người ta thường dựa vào tiến trình thời gian đời người mà đem sự vận hành của sinh mệnh con người phân chia thành đại vận, tiểu vận, lưu niên. Vận hành của mệnh được gọi là vận mệnh, cho nên mệnh cũng được gọi là vận mệnh. Tức là vận trình của mệnh khác nhau biểu hiện ra vận mệnh cuộc đời mỗi người khác nhau. Tính mệnh mỗi người khác nhau là do vận trình không giống nhau tạo thành. Nó có thể là vận may, hoặc là vận rủi, hoặc là trước may sau rủi, hoặc là rủi trước may sau. Trong các vận trình khác nhau của sinh mệnh sẽ biểu hiện ra chất lượng của mệnh khác nhau. Chất lượng thông thường của sinh mệnh là biểu hiện qua sự giàu nghèo, sang hèn, tuổi thọ, hạnh phúc, khổ đau, trắc trở hay suôn sẻ… đo lường. Bởi vậy, mệnh hay vận mệnh, trên thực tế chính là quỹ đạo vận hành của sinh mệnh con người vốn đã được trời định sẵn từ trước. Văn hóa truyền thống Trung Hoa cho rằng, vận mệnh của con người có thể biết trước được, do đó người xưa rất coi trọng việc đoán mệnh, điều này gọi là hiểu về số mệnh con người. Trong “Luận ngữ – Nghiêu viết”, Khổng Từ giảng “Bất tri mệnh, vô dĩ vi quân tử dã”, ý là Người không hiểu biết về số mệnh thì không phải là người quân tử. Trong “Luận ngữ – Vi chính”, Khổng Tử cũng nói “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh” – Con người khi đến tuổi 50 thì hiểu được mệnh trời. Vậy, vì sao cần phải hiểu biết về số mệnh con người? Bởi vì người xưa cho rằng, việc gì được chuẩn bị trước thì cũng sẽ thành công, không được chuẩn bị cẩn thận thì thường dở dang. Từ xưa đến nay, cầu lợi tránh hại, cầu may mắn tránh nguy hiểm là bản năng của con người. Biết được vận mệnh của con người thì có thể ứng phó được với những điều nguy hiểm xảy ra trên đường đời phía trước. Vậy nên, người xưa giảng rằng bằng lòng với mệnh trời thì không lo lắng. Ảnh Shutterstock. “Kinh Dịch” trong “Tứ Thư Ngũ Kinh” được đặt ở vị trí số một trong các kinh thời cổ đại. Hơn nữa, “Kinh Dịch” trên thực tế là một bộ sách về bói toán, trong đó “Hệ Từ” – các quẻ bói toán, lại được viết đầu tiên. Khổng Tử cũng đã dành cả đời để nghiên cứu về bộ “Kinh Dịch” này, cho nên trình độ đã đạt đến “Vi biên tam tuyệt” – Khổng tử đọc Kinh Dịch khiến lề sách đứt ba lần. Cuốn “Dịch truyện” chính là những nhận thức tâm đắc trong nghiên cứu “Kinh Dịch” của ông. Đạo gia Trung Quốc có thuật đoán mệnh vô cùng phong phú; bao gồm Lục Hào, Mai Hoa Dịch Số, Tứ Trụ Bát Tự, Kỳ Môn Độn Giáp, Lục Nhâm, Thiết Bản Thần Số, tướng mặt, tướng tay, Vì sao lại gọi là đoán mệnh? Bởi vì văn hóa truyền thống Trung Hoa cho rằng hết thảy vạn sự vạn vật đều có định số. Đoán mệnh chính là căn cứ theo dịch số, mệnh số mà suy đoán vận mệnh của con người. Trong sử sách của Trung Quốc có ghi chép rất nhiều cao thủ tinh thông về thuật số đoán mệnh, ví như Khương Tử Nha, Gia Cát Lượng, Viên Thiên Cang, Lý Thuần Phong, Lưu Bá Ôn, Trong tu luyện của Phật gia còn xuất hiện một loại công năng kỳ diệu gọi là “túc mệnh thông”. Người có được loại công năng này có thể dùng thiên mục mà trực tiếp nhìn thấy được quá khứ, hiện tại, tương lai, thậm chí đời trước kiếp trước, nhiều kiếp nhiều đời… Vận mệnh của con người tuy là trời định, là đã được chú định sẵn từ trước, nhưng không phải là không thể thay đổi được. Đạo gia xưa có cách nói “Ngã mệnh tại ngã bất tại thiên”, ý tứ là mệnh của mình do mình định đoạt chứ không phải do trời, một người có thể thông qua nỗ lực cố gắng thì có thể thay đổi được vận mệnh ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, cũng có câu “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, nếu như con người không ngừng làm việc xấu thì không những không thể khiến cho vận mệnh tốt lên mà còn xấu đi, cuối cùng sẽ gặp bất hạnh. Vậy nên dưới tình huống thông thường, con người chỉ có năng lực tuân theo thiên mệnh, làm hết bổn phận, tùy kỳ tự nhiên, thuận theo số phận. Nếu con người muốn thay đổi vận mệnh cho tốt hơn thì chỉ có một cách là hành theo đạo trời, như vậy sẽ được Thần Phật và các sinh mệnh cao cấp trên thiên thượng an bài lại mới. Vậy họ căn cứ vào điều gì để có thể an bài đường đời cho một người? Họ căn cứ vào hành động thiện ác cùng tỷ lệ nghiệp đức đã tạo từ trong những kiếp trước, tùy theo lớn nhỏ mà an bài. Người làm việc thiện sẽ nhận về thiện quả, người hành ác sẽ gặt quả ác báo, đây cũng gọi là “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”. Vận mệnh con người có rất nhiều cách biểu hiện, bao gồm họa và phúc, trắc trở hay suôn sẻ, giàu và nghèo, cát và hung, sống thọ hay chết yểu… Tất cả đều là kết quả của báo ứng thiện ác đối với mỗi hành vi của con người. Vì vậy, vận mệnh của con người là do Thần Phật chủ trì, dựa theo thiên lý hay quy luật của vũ trụ mà sắp đặt đường đời cho mỗi người. Mệnh là thể hiện của quy luật hoặc phép tắc của vũ trụ trong tiến trình sinh mệnh đời người. Đã là như vậy, con người muốn thay đổi đường đời hay vận mệnh của mình từ xấu trở nên tốt cần tuân theo quy luật vũ trụ, trọng đức hành thiện, gắng sức sửa chữa lỗi lầm trước đây và tránh làm điều ác. Bởi vì đạo của Trời là ban thưởng cho cái thiện và trừng phạt cái ác. Đây chính là tu luyện chân chính, chỉ có tu luyện mới có thể thay đổi vận mệnh trở nên tốt hơn. Thông qua tu luyện mà thay đổi vận mệnh được gọi là tu mệnh. Viên Liễu Phàm tác giả của cuốn “Liễu Phàm Tứ Huấn” chính là một tấm gương điển hình của việc tu mệnh thành công. Cái gọi là “Đoán mệnh không bằng chấp nhận số mệnh, chấp nhận số mệnh không bằng tu mệnh”, đạo lý chính là ở chỗ này. Căn bản của tu mệnh chính là tu tâm. Tâm là căn nguyên của mọi hành vi mà con người biểu hiện ra. Người có thiện tâm thì hành vi rất thiện, người có ác tâm thì hành vi cũng sẽ ác. Tu tâm chính là dựa vào Phật pháp và Đạo pháp mà thay đổi hết thảy những tư tưởng, quan niệm và hành vi không phù hợp của bản thân. Chỉ có tu tâm mới có thể thay đổi được tận gốc rễ những thứ không tốt trong vận mệnh của con người. Người xưa có câu “Nhất thiết phúc điền, bất ly phương thốn”, là có ý nói rằng hết thảy ruộng phúc không ở đâu xa mà ở ngay gần lòng người. Nói về mối quan hệ giữa tâm và mệnh, bài “Tâm mệnh ca” viết rằng “Mệnh tốt tâm cũng tốt, phú quý mãi đến già. Mệnh tốt tâm không tốt thì sẽ thất bại giữa đường. Tâm tốt mệnh không tốt, trời đất cuối cùng cũng bảo hộ cho. Tâm mệnh đều không tốt, nghèo khó cùng phiền não”. Cổ ngữ cũng lại có câu “Tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”. Tu tâm có thể bù đắp được hết những thiếu sót trong vận mệnh đã được an bài từ trước, tu tâm có thể triệt để thay đổi và cải biến vận hạn trong đời. Thực tế thì không phải cứ người có vận mệnh không tốt mới cần tu tâm, mà người người đều cần tu tâm sửa tính. Người dù có vận mệnh tốt cũng không tránh khỏi quy luật “sinh lão bệnh tử”. Phú quý danh lợi khi sinh không mang theo đến, khi tử không mang theo đi. Sau khi hưởng hết phúc phận, con người không tu luyện lại tiếp tục nhập lục đạo, luân hồi trong tam giới không dứt. Vì vậy, đoán mệnh để cải biến vận mệnh mà con người bình thường nói đến, trên thực tế chỉ là thay đổi một chút cho cuộc sống tốt hơn mà thôi. Người muốn triệt để cải biến vận mệnh, bảo trì sinh mệnh vĩnh viễn thì chỉ có phát đại thệ nguyện, khởi tâm tinh tấn, gian khổ tu luyện mới có thể đạt thành chính quả, thoát ly khỏi lục đạo luân hồi trong tam giới. Có thơ rằng Nhân sinh như sóng cuộnTan giữa biển vô thườngMuốn trở về Cố HươngĐừng quên Chân-Thiện-NhẫnSinh mệnh như sóng cuộnNgụp lặn kiếp luân hồiMuốn thăng hoa về TrờiĐồng hóa Chân-Thiện-Nhẫn… [Vô danh cư sỹ]. Theo Vision TimesSan San biên dịch van la gi menh la giTip chia sẻ - Ý nghĩa như thế nàoTheo dõi BlogDoanhNghiep trên2022-06-28 221657“Mệnh tại thiên – vận tại nhân” là quan niệm ngụ ý rằng mệnh là do ông trời định đoạt, còn vận nằm trong sự kiểm soát của chính ta. Người sinh ra đã giàu sang, nhưng lớn lên thì thất bát. Người nghèo khổ từ nhỏ, nhờ vượt khó mà trở nên thành công. Vậy vận mệnh có ý nghĩa to lớn như thế nào?“Mệnh tại thiên – vận tại nhân” là Vận là gì? - Mệnh là gì?quan niệm ngụ ý rằng mệnh là do ông trời định đoạt, còn vận nằm trong sự kiểm soát của chính ta. Người sinh ra đã giàu sang, nhưng lớn lên thì thất bát. Người nghèo khổ từ nhỏ, nhờ vượt khó mà trở nên thành công. Vậy có ý nghĩa to lớn như thế nào?Vận là gì? Mệnh là gì?1. Mệnh là gì?Mệnh là cái cố định không thể thay đổi, được xem là tiên thiên chú định. Vận là gì? - Mệnh là gì? Có nghĩa là khi được sinh ra, mỗi người đã có một mệnh sẵn Trung Hoa nói “mệnh” là “Bát tự” giờ, ngày, tháng, năm sinh viết theo Thiên can và Địa chi. Đây là cách xem vận mệnh của người Trung Hoa xưa. Căn cứ vào “Bát tự” có thể xem được quỹ đạo vận hành, vinh phục, phúc họa, bần phú, thọ yểu trong cuộc đời mỗi Vận là gì?Vận cũng được gọi là vận thế. Tức là Vận khí của từng giai đoạn thời gian cụ thể nào đó, sẽ phát sinh thịnh hay suy, thông suốt hay bế tắc. Vui ,sướng khổ, vinh nhục,… đều đã được an bài sẵn. Con người chỉ có thể nương theo Vận số. Nếu gặp vận thịnh thì tranh thủ khai thác thuận lợi, gặp vận suy thì thủ thường, có biện pháp phòng ngừa hợp lý để giảm bớt rủi ro chứ không sửa số giống Mệnh, Vận là điều có thể thay đổi được. Nếu ví “mệnh” là một chiếc xe xuất phát từ đầu đến cuối con đường đời thì thi xe loại gì, còn đường đó thế nào được xem là “vận”.Có thể nói “mệnh” chính là bất biến, không bao giờ có thể đổi thay. Nhưng “vận” lại nằm trong tầm kiểm soát của bản thân. Vậy nên người ta thường đoán “mệnh”, chứ “vận” là cái có thể kiểm soát sinh mỗi người một Tướng hình, năm, tháng, ngày, giờ sinh cùng với tuế vận quỹ đạo và chu kỳ thời gian, tất cả những phạm trù đó thuộc về “Thiên Định” – thuộc về tự nhiên, là những điều bạn không thể thay đổi được, dân gian vẫn hay gọi là “Định Mệnh”.Vận là gì?Quả thật những phạm trù thuộc về “Thiên Định” chúng ta không thể nào tác động vào, nhưng trong cuộc sống có rất nhiều yếu tố chúng ta có thể lựa chọn và thay đổi, tu tâm dưỡng tính, hành xử giữ độ, hành động có ý thức lý trí, hành vi có đạo chính là những thứ gọi là “Nhân Định”, vận mệnh 3 phần do Thiên 7 phần là do Nhân quyết định, có thể liệt kê một số nét cơ bản như dưới đâyTU TÂM DƯỠNG TÍNH ĐỂ CẢI MỆNHTâm sinh ra các Pháp, Tâm tĩnh thì Trí tuệ sáng, Tâm sinh Tướng muốn có tướng tốt thì phải có Tâm tốt, Tâm chưa thiện phong thủy vô ích vì phong thủy chỉ là sự thay đổi bên ngoài là thay đổi hình tướng mà chưa phải thay đổi Tâm giống như việc làm đẹp gương mặt bằng phẫu thuật thẩm mỹ, tẩy nốt ta phải tu Tâm dưỡng Tính hành động có lý trí, Tư tưởng đúng đắn, ngôn ngữ không tùy tiện, hành vi có đạo đức, sống có ý thức tự giác, dám nghĩ dám làm và chịu trách nhiệm về hành động của bản thân thành tựu của cuộc đời người phần lớn chịu ảnh hưởng nhân quả do Tính cách quyết định sự thành bại. Trong cuốn sách “Chân tướng của sinh mệnh” do một nhà truyền giáo tên là Masaharu Taniguchi viết “Trong tim chúng ta có một cục nam châm rất mạnh, có thể thu hút tai họa. Chúng ta bị bệnh là bởi vì chúng ta có một trái tim yếu đuối thu hút vi khuẩn.”Đây thực ra là một câu ẩn ý có thể hiểu là Tâm quyết định nên Tướng là Tướng cách của người đó, cuộc đời người đó tốt hay xấu đều do tâm quyết định, việc cải Tướng cải mệnh chính là cải Tâm, Tâm sinh ra Tính, sửa đổi tâm tính để vận mệnh tốt nhà khoa học cũng đã nghiên cứu Khi chúng ta tức giận trong cơ thể con người sản sinh ra một loại chất độc làm tổn thương hệ thống miễn dịch, ảnh hưởng đến Phổi, dạ dày, tuyến giáp nội tiết, Gan, thiếu máu cơ tim, lão hóa tế bào não, nám da… không riêng gì tính cách nóng giận mà còn nhiều đức tính xấu khác như kiêu ngạo tự mãn, yếu đuối hèn nhát …. đều làm ảnh hưởng đến vận mệnh cuộc đời người. Nên việc kiểm soát hành vi tính cách xấu là sự Cải tướng để thay đổi vận cũng có một Tín ngưỡng của riêng mình, có rất nhiều Tôn giáo nhưng phải phân biệt được Chính – Tà phải có lý trí để phân biệt bởi Chính thì Tốt mà Tà thì xấu, nó làm ảnh hưởng đến vận mệnh và cuộc đời chúng cuộc đời, không có ai chỉ đi cầu khấn, lễ bái, cũng chẳng có ai sinh ra không phải cố gắng mà sẽ đạt được hạnh phúc, thành công lâu bền, Khổng Tử là bậc thánh hiền từng nói “nếu chỉ cầu khấn mà có được Phú Quí thì ta thà làm tên chăn ngựa”.Từ xa xưa, con người luôn được coi là trung tâm của Trời đất Thiên – Địa – Nhân là nền tảng của mọi thứ bởi con người sống có Ý thức và có suy nghĩ đến vạn sự, vạn vật. Con người chỉ có thể có được vận mệnh tốt khi chính chúng ta phải luôn cố gắng phấn đấu, không ngừng trau dồi phẩm hạnh, làm nhiều việc thiện cho đến học tập, tu dưỡng và trải nghiệm kinh nghiệm thực hành trong cuộc sống để tiến bộ, rèn luyện các kỹ năng để sinh tồn và phát triển. Học tập văn hóa khoa học tri thức, không ngừng tăng cường tu dưỡng thân tâm, từ bỏ cá tính dở cùng tâm tính bất lương. Chỗ này chính là phép tu tâm dưỡng tính để cải thiện sinh biết về Đạo là như vậy, phải phân biệt rõ chính Đạo hay tà Đạo nếu không sẽ trở nên tăm tối vô minh là con đường đi đến Mê tín và cực đoan về Tín ngưỡng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự thành tựu của cuộc ĐỨC LÀM VIỆC THIỆN ĐỂ CẢI MỆNHTheo quan điểm của Đạo Phật, tích đức hành thiện sẽ thay đổi nghiệp quả ác từ đời trước, tạo nên những nghiệp thiện và nếu làm nhiều có thể báo ứng ngay hiện tại góp phần cải thiện vận việc thiện có rất nhiều nhưGiúp người khó khănChữa bệnh, làm đường xá cầu cốngỦng hộ cứu trợ nạn nhân bị thiên taiHiến máu nhân đạo cứu người…Thực tế cho thấy hạnh phúc lớn lao của con người chỉ đạt được khi mà hạnh phúc ấy được chia sẻ với những thành viên khác trong cộng đồng. Tích đức hành thiện sẽ cải số mệnh cuộc đời.“Trời làm mỏng Phúc phận của ta thì ta phải làm dày công đức để bù đắp lại”. Tấm lòng luôn có Thiện căn. Người có lòng Nhân từ là Quí nhân. Người có thiện tâm là người có trí tuệ đáng học tập. Làm chủ tư duy thay đổi vận mệnh cuộc đời, không làm những việc ác chỉ làm những việc lành là tích Đức ” Đức năng thắng Số” là như THÁI AN NHIÊN TỰ TẠI ĐỂ CẢI MỆNHÔng Inamori Kazuo là một doanh nhân hết sức thành đạt trong việc sáng lập và điều hành tập đoàn Kyocera lớn mạnh của Nhật Bản. Hơn nữa, ông còn được biết đến là người có nhân sinh quan, triết lý sống vô cùng sâu sắc. Khi kể về cuộc đời của mình, ông từng khẳng định rằng, tướng do tâm sinh, vận mệnh của ông thay đổi tốt lên chính là nhờ vào sự thay đổi của Tâm là sự phản chiếu của Tâm, tâm tướng, tâm thái con người thật không dễ dàng thay đổi được, vì vậy cuộc đời vẫn tiếp tục long đong và trắc trở. Tâm thái muốn an nhiên tự tại thì cần phải có sự tự giác ngộ, bồi dưỡng trí tuệ, kiểm soát tâm tính hành vi, hành động để chúng ta có một Thái độ đúng đắn khi hành xử giải quyết các vấn đề trong cuộc sống bằng cả cảm xúc và lý trí hiệu đau hay chướng ngại trong cuộc đời chúng ta hãy coi nó chỉ là một mùi vị cần phải nếm trải chứ đừng kêu than hay đổ lỗi cho số phận, tâm thái an nhiên là bình thản chấp nhận nó và tìm cách vượt qua nó bằng cách chiến thắng bản thân mình trước đã đó là sự tự tin là có bản lĩnh. Tâm thái an nhiên tự tại là có Tinh thần điềm tĩnh, có Khí phách đại phương, không làm việc gì Quá luôn giữ được chừng mực mức Độ và biết điểm Dừng hợp lý, được như vậy cuộc sống luôn Bình an ít thăng trầm, vận mệnh sẽ tốt vọng bài viết Vận là gì? - Mệnh là gì? giúp bạn hiểu hơn về ý nghĩa. Mọi thông tin chỉ giúp bạn tham khảo. Ngày nay, không ít người đặt nặng tư tưởng và sự lệ thuộc vào tiền. Họ có quan điểm cho rằng, có tiền mới có cuộc sống hạnh phúc, có tất cả những gì mình muốn. Vì thế, họ theo đuổi tiền, tìm mọi cách để có được tiền. Tuy nhiên, người ta lại phát hiện ra rằng, mặc dù có người đã rất cố gắng, nỗ lực, rất phấn đấu nhưng quanh năm suốt tháng vẫn sống trong khó khăn, túng bấn. Có người muốn làm giàu một cách nhanh chóng, thậm chí vay tiền nặng lãi để làm ăn, nhưng kết quả lại thua lỗ hết cả vốn và tiền vay. Cuộc sống càng rơi vào khốn khó hơn khi phải trả thêm khoản nợ. Có người vì thế mà cửa nát nhà tan. Văn hóa hiện đại, dạy bảo và khuyến khích con người phải tranh, phải đấu thì mới có được những điều mình muốn. Nhưng vì sao mà “đấu” mãi không được? “Tranh” mãi không được tiền đồ tốt đây? Đó là bởi vì con người có “phúc phận” và “phúc khí”. Vậy, “phúc phận” và “phúc khí” của một người rốt cuộc là từ đâu mà đến? Câu chuyện trong văn hóa truyền thống sau đây có thể chúng ta sẽ tìm ra những nguyên nhân và kết quả cho câu hỏi trên. “Phạm gia” hưng thịnh suốt 800 năm Phạm Trọng Yêm xuất thân rất nghèo, lúc còn trẻ ông vô cùng khốn khó, cuộc sống khó khăn gian khổ. Ông nghĩ thầm rằng mai sau lớn lên nếu có thể hơn người, nhất định phải cứu tế những người nghèo khó. Sau này làm tới chức Tể Tướng, liền đem bổng lộc lấy ra để mua ruộng đất, cấp cho những người nghèo không có ruộng để cày cấy và trồng trọt. Ông còn cung cấp cho người nghèo cơm gạo, quần áo. Phàm là bất kể ai mà có việc lớn như hôn sự hay tang sự, ông còn trợ cấp tiền cho họ. Cứ như thế, ông dùng hết tiền thu nhập của mình để chu cấp cho hơn ba trăm gia đình ở quê hương. Có một lần ông mua một ngôi nhà ở Tô Châu. Một thầy phong thủy đã ra sức khen ngợi ngôi nhà này có phong thủy thật là tốt, đời sau nhất định sẽ làm quan to. Phạm Trọng Yêm nghĩ thầm, nếu nhà này có phong thủy khiến cho đời sau vinh hiển như thế chi bằng ta đổi thành học đường thì hơn, để cho muôn dân trăm họ Tô Châu từ sau có thể vào đây mà học. Tương lai những thế hệ sau này đều có người tài đức, có danh vọng và vinh hiển, chẳng phải là họ cũng được hưởng phúc mà đất nước cũng càng có lợi hay sao? Vậy là ngay lập tức ông đem ngôi nhà của mình quyên góp, sửa sang thành học đường. Thực hiện điều ước ấp ủ từ lâu cho những trẻ em nghèo khổ có thể được đi học. Tục ngữ có câu “Giàu không quá ba đời”. Nhưng gia tộc họ Phạm lại hưng thịnh đến tám tăm năm. Bốn người con của Phạm Trọng Yêm đều có tài có đức, làm tể tướng và quan lớn. Con cháu của Phạm Trọng Yêm luôn ghi nhớ gia huấn của tổ tiên là “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi nhạc nhi nhạc” Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ và “Tích đức hành thiện”. Bởi thế mà đời sau của Phạm Trọng Yêm một mực hưng thịnh cho đến mãi những năm đầu của Trung Hoa dân quốc mà vẫn không suy. Đào gia xuất sinh hiền nhân Đào Chú là người huyện An Hóa, Hồ Nam. Ông là quan lớn được Hoàng đế Đạo Quang triều nhà Thanh rất trọng dụng. Ông từng ở kinh thành đảm nhận chức quan Hàn Lâm Viện, sau đó được thăng chức lên làm quan Ngự sử. Về sau, ông đảm nhận chức vụ Binh bị đạo quan đặc trách chỉnh quân ở Xuyên Đông, Sơn Tây bố chính sử chức quan thi hành chính trị, An Huy bố chính sử, An Huy tuần phủ, Giang Tô tuần phủ… Năm Quang Đạo thứ 10, ông làm Thái tử Thiếu bảo, Lưỡng Giang tổng đốc. Trong thời gian làm quan, ông quản lý tài sản, thụ lý xử án, cứu tế dân khi có thiên tai, khai thông vận chuyển đường sông, khai mở vận chuyển đường biển, phát triển giáo dục hưng thịnh. Tính cách nghiêm khắc, chính trực và những thành tích to lớn mà ông làm được khiến người dân ai ai cũng cảm phục. Bởi vậy, trong lịch sử Trung Hoa, thanh danh của Đào Chú được xếp ngang với Lâm Tắc Từ. Nếu ngược thời gian, tìm hiểu về gia tộc những đời trước của Đào Chú, chúng ta sẽ không thể không cảm thán rằng “Đời trước tích đức dày, không thể không ảnh hưởng đến vận của đời sau.”! Vào triều nhà Minh, binh vệ ở vùng quê rất nghiêm khắc. Người nào trộm cắp mà người ta bắt được thì sẽ bị xử bằng hình phạt dìm nước đến chết. Lần ấy, một tên trộm bị bắt giữ, đúng lúc thái cao tổ của Đào Chú là Hàm Công đi qua. Kẻ trộm cầu xin “Xin ân công cứu tôi, tôi nguyện sẽ không bao giờ làm kẻ ăn trộm nữa”. Hàm Công liền bỏ ra khoản tiền trả cho người ta để cứu giúp kẻ trộm. Vì ông lo lắng rằng tên trộm sẽ không thể “tay làm hàm nhai” nên đã cấp cho người này một chiếc thuyền nhỏ để mưu sinh. Cả đời, Hàm Công đã bố thí cho người nghèo tám chiếc thuyền để trợ giúp họ có phương tiện làm việc kiếm sống. Hàng ngày, mỗi khi ra khỏi nhà, Hàm Công đều mang theo một chiếc giỏ nhỏ đựng những vật sắc nhọn mà ông nhặt được trên đường, để người đi đường không bị dẫm phải. Cụ của Đào Chú là Hành Công cũng là một người có đạo đức cao đẹp. Vào một ngày trời lạnh giá, có một người đã lẻn vào nhà ông để trộm gạo. Lúc ấy, cụ của Đào Chú biết nên đã lần theo dấu tuyết và đi đến cửa nhà người này. Ông biết rõ người này là người có nhận thức nên thông cảm cho gia cảnh nghèo khó của người này, lặng lẽ quay về nhà. Sự việc ấy xảy ra, ông không bao giờ nhắc tới một lần nào trong đời. 30 năm sau, vợ của ông kể chuyện này với con cháu nhưng tuyệt nhiên không nhắc đến tên của người trộm. Một lần, ở quê nhà của Đào gia bị hỏa hoạn, vợ của Hành Công đã lấy lương thực trong kho thóc của gia đình đến cứu trợ những gia đình bị nạn. Ông nội của Đào Chú cũng là người có tính tình đạm bạc, không tham lam, bởi vì không kinh doanh nên hoàn cảnh gia đình cũng bình thường. Một lần, ông đi đến bờ sông thì nhặt được tiền. Ông ngồi đó đợi một ngày thì thấy một người hớt hải chạy tới, mặt vàng nhợt nhạt, lo lắng tìm kiếm. Bộ dạng của người này vô cùng khổ sở, bi thương. Lượng Công hỏi người này, người này trả lời “Tôi đi làm thuê ở xa mấy năm chưa về nhà, trong nhà lại có mẹ già. Nay đã tích lũy được chút tiền nên muốn trở về để phụng dưỡng mẹ già thì lại đánh rơi mất hết tiền, vì thế mà trong lòng rất đau buồn.” Sau khi hỏi số tiền mà người này mất, tất cả đều đúng, vì thế Lượng Công đem túi tiền trả cho người này. Người này vô cùng cảm kích, muốn tặng lại cho ông nửa số tiền ấy, nhưng Lượng Công nói “Nếu tôi muốn được chia tiền thì đã không ngồi đây đợi cậu rồi.” Nói xong, ông bèn từ biệt người kia và rời đi. Đến đời cha của Đào Chú là Đào Tất Thuyên cũng rất chú trọng đến việc hành thiện, giúp người, tích đức. Tổ tiên mấy đời của Đào Chú đều coi trọng làm việc thiện, cho nên, huyện An Hóa mới xuất sinh ra một Đào Chú danh tiếng lẫy lừng như vậy. Mai Trà biên dịch

phúc phận vận mệnh là gì